Tuy nhiên để người lao động Việt Nam có thể sang Lào lao động, các doanh nghiệp đang gặp một số khó khăn về thủ tục hành chính. Đây là vấn đề cần được các cơ quan chức năng hai nước hợp tác tháo gỡ.

Tang cuong bao ve quyen loi nguoi lao dong Viet Nam tai Lao - Anh 1

Thiếu lao động kỹ thuật

Hợp thức hóa việc đưa lao động Việt Nam sang Lào làm việc, Bộ Lao động hai nước đã ký kết Hiệp định hợp tác lao động Việt - Lào vào ngày 29/6/1995 và Nghị định thư sửa đổi bổ sung ngày 8/4/1999. Tuy nhiên, quá trình thực hiện cho thấy Hiệp định hợp tác lao động năm 1995 và Nghị định thư sửa đổi năm 1999 đã không còn phù hợp với tình hình thực tế hiện nay. Vì vậy, vào tháng 7/2013, Bộ Lao động hai nước đã ký kết Hiệp định hợp tác lao động Việt - Lào.

Hiệp định mới đã điều chỉnh được các hình thức lao động phù hợp với tình hình thực tế, quy định cụ thể về thủ tục xin cấp giấy phép lao động, đăng ký lưu trú, các loại phí liên quan, chế độ bảo hiểm, y tế, xử lý tranh chấp... đảm bảo được yêu cầu quản lý và bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động.

Nhìn chung, sự có mặt của lao động Việt Nam tại Lào ở nhiều nơi đã giúp giải quyết một phần nhu cầu thiếu lao động của Lào, nhất là trong các lĩnh vực: Năng lượng, xây dựng hạ tầng cơ bản, lĩnh vực nông lâm nghiệp, công nghiệp khai khoáng, lĩnh vực dịch vụ...

Tuy nhiên, các doanh nghiệp đưa lao động Việt Nam đi làm việc tại Lào gặp phải một số vấn đề như: Theo quy định của Lào, tỷ lệ lao động phổ thông nước ngoài vào làm việc trong các dự án đầu tư tại Lào, Campuchia không quá 10% trên tổng số lao động của dự án, đối với lao động kỹ thuật tỷ lệ này là 20%. Vì lao động tại chỗ không đủ về số lượng và tay nghề để cung cấp cho các doanh nghiệp Việt Nam có công trình, dự án tại Lào nên việc khống chế tỷ lệ này gây khó khăn cho doanh nghiệp Việt Nam. Bên cạnh đó, lao động nước ngoài vào lao động tại Lào phải chịu mức phí lưu trú và lệ phí cấp giấy phép lao động tương đối cao gây khó khăn cho doanh nghiệp và người lao động.

Đẩy mạnh giải pháp quản lý

Nhằm tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ quyền lợi của người lao động Việt Nam làm việc tại Lào, Cục Quản lý lao động ngoài nước đã đề xuất một số giải pháp như: Các doanh nghiệp Việt Nam trúng thầu, đầu tư, thực hiện dự án viện trợ không hoàn lại tại Lào cần thực hiện việc báo cáo Bộ LĐ-TB&XH về việc đưa lao động đi làm việc tại Lào chậm nhất là 20 ngày trước ngày đưa lao động đi; Các cấp quản lý lao động hai bên, nhất là các địa phương tiếp giáp đường biên giới, tiếp tục tổ chức gặp gỡ thường xuyên để trao đổi thông tin, phối hợp giải quyết những vấn đề nảy sinh trong việc tiếp nhận và sử dụng lao động Việt Nam tại Lào; Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội Lào tiếp tục vận dụng chính sách linh hoạt, tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động Việt Nam làm việc tại Lào, trong đó có việc cung cấp thủ tục pháp lý đầy đủ; Tăng cường hoạt động phối hợp rà soát, kiểm tra, giám sát của cơ quan chức năng hai nước; Tổ chức kết nối giữa các doanh nghiệp dịch vụ lao động của hai nước...

Thứ trưởng Bộ LĐ-TB&XH Đào Hồng Lan cho biết, trong bối cảnh luật pháp của hai nước có nhiều quy định mới liên quan đến việc quản lý lao động nước ngoài, đặc biệt, vừa qua, Chính phủ Lào đã ra Chỉ thị 62/TTg về Tăng cường quản lý lao động nước ngoài tại Lào và Thông tư hướng dẫn số 0429/BCT ngày 3/3/2016 của Bộ Công Thương Lào, Bộ LĐ-TB&XH Việt Nam tiếp tục phổ biến nội dung Hiệp định; thông tin về các chính sách mới của Lào đến các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư tại Lào, chính quyền địa phương các tỉnh có đường biên giới với Lào; đồng thời lắng nghe ý kiến phản ánh của các doanh nghiệp, các địa phương về những khó khăn, vướng mắc trong công tác quản lý người lao động Việt Nam tại Lào. Đây là iệc làm hết sức cần thiết để tăng cường công tác quản lý và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động Việt Nam làm việc tại Lào.