Việc mở cho khu vực tư nhân tham gia cung ứng các dịch vụ công ích là một chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên để thị trường hóa các dịch vụ công ích mang lại hiệu quả thật sự thì vẫn cần những cải cách quyết liệt.

Các nghiên cứu đều cho thấy, sự cạnh tranh ở khu vực tư nhân trong nền kinh tế thị trường đã đem lại nhiều lợi ích mà cả Nhà nước và người dân được hưởng lợi, với hàng hóa rẻ hơn, chất lượng hơn.

Nhiều bất cập cản trở thị trường hóa dịch vụ công
Tuy nhiên tại buổi công bố kết quả nghiên cứu về “Thị trường hóa các dịch vụ công ích” ngày 11-11, tiến sĩ Nguyễn Đức Thành, Viện trưởng Viện nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR) đã chỉ ra hàng loạt những bất cập cản trở trong việc đưa cơ chế thị trường vào vận hành trong lĩnh vực dịch vụ công ích.

Tiến sĩ Nguyễn Đức Thành cho biết, qua so sánh và đối chiếu thị trường cung ứng các dịch vụ môi trường đô thị tại Việt Nam với các nước, cho thấy sự bất cập trong vấn đề xử lý chất thải ở Việt Nam.

Trước đây mọi người thường cho rằng Nhà nước độc quyền cung ứng các dịch vụ công sẽ đem lại hiệu quả. “Đó là lựa chọn duy lý, vì vậy việc trả các dịch vụ công về cho thị trường làm là rất khó khăn”, ông Thành khẳng định.

Chuyên gia môi trường này phân tích, “hàng hóa công” ở Việt Nam đang ít có sự cạnh tranh, ít có sự loại trừ nhau. Ở các nước phát triển nếu người dân không đóng phí thu gom rác thì rác của họ sẽ không được thu gom, nhưng nếu làm điều này ở Việt Nam thì số rác này có thể bị vứt bừa bãi, ảnh hưởng đến người khác cũng như môi trường chung, ông Thành dẫn dụ.

Của rẻ là của ôi?
Về vấn đề phí xả thải cũng đang cho thấy những hạn chế. Theo T.S Thành, thị trường hóa các dịch vụ công ích ở các nước đã giúp giá xả thải vận động không ngừng theo thu nhập, trong khi ở Việt Nam mức phí thường bị ấn định.

Một điểm nữa là phí xả thải sẽ phải tăng hằng năm theo mức tăng của thu nhập bình quân đầu người. Tuy nhiên, quy mô xả thải ở Việt Nam vẫn chưa đủ lớn, cộng với phí thu gom rác rất thấp nên không hấp dẫn khối tư nhân đầu tư. T.S Thành lý giải, việc chi phí xả thải rẻ đã dẫn đến rác không được xử tốt. Vì vậy các doanh nghiệp xử lý rác thường chọn cách ít tốn kém như chôn lấp, khiến chất lượng môi trường suy giảm.

Trong thực tế, nguồn thu từ phí chỉ bằng 5% chi phí thật mà Nhà nước phải đầu tư. Vì vậy các doanh nghiệp thường chọn chôn lấp vì rẻ thay vì đốt để tiết kiệm chi phí. Điều này trái ngược hẳn với các nước phát triển. Theo đó, các nước này có chi phí cao hơn rất nhiều, dẫn đến khu vực tư nhân thấy có lợi nên sẵn sàng đầu tư các công nghệ tiên tiến để thu lợi nhuận.

Ông Đinh Tuấn Minh, trưởng nhóm nghiên cứu cho rằng, cần tuyên truyền cho người dân hiểu việc xử lý rác rất tốn kém, phải trả phí đắt đỏ để từ đó họ xả thải có ý thức hơn, tự giác phân loại rác, giúp giảm chi phí.

Tuy nhiên khi người dân đã ý thức thì quả bóng trách nhiệm lại được đẩy sang doanh nghiệp. Trên thực tế có nơi người dân đô thị rất có ý thức trong việc phân rác hữu cơ và vô cơ, song doanh nghiệp thu gom lại không đủ xe chuyên chở vì phần lớn là “con nhà nghèo”. Vậy nên rác hữu cơ và vô cơ vẫn được trộn lẫn vào nhau, và chỉ được phân loại tại cơ sở xử lý, đẩy cao chi phí, gây tốn kém.

Cùng qua điểm với T.S Thành về việc cần điều chỉnh giá, phí xả rác để tăng ý thức người dân, tạo hấp dẫn cho doanh nghiệp, “song việc làm này phải đi đôi với việc thay đổi cấu trúc thị trường”, ông Minh nói và đơn cử, khi tăng giá điện thì phải minh bạch thị trường về giá, về cấu trúc thị trường, cũng như vấn đề sở hữu để tạo cạnh tranh công bằng và bình đẳng.

Nhà nước kiến tạo luật chơi công bằng
Bàn về quản lý Nhà nước hiện nay, T.S Thành chỉ ra thêm: “mô hình tổ chức quản lý chất thải rắn của ta hiện rất công kềnh, mỗi bộ ngành, địa phương đều tham gia. Điều này dẫn đến việc khó quy trách nhiệm nếu xảy ra ô nhiễm môi trường”.

Chính vì vậy, nhóm nghiên cứu của VEPR cho rằng, Nhà nước cần mở hơn nữa cho khối tư nhân tham gia cung ứng các dịch vụ công ích, trong khi Nhà nước chỉ đóng vai trò tạo luật chơi cho các doanh nghiệp cạnh tranh.

Theo T.S Thành, hiện quy mô xử lý chất thải ở Việt Nam phi tập trung và nhỏ lẻ. Chính vì vậy, Nhà nước cùng cần phân định rõ thị phần theo từng quy mô, rồi mở cho tư nhân đủ điều kiện tham gia. Đồng thời Nhà nước cũng cần ký hợp đồng lâu dài hơn để doanh nghiệp yên tâm đầu tư.

Loại bỏ doanh nghiệp “sân sau”
Viện trưởng VEPR cũng cho rằng, các cam kết trong hợp đồng với doanh nghiệp cũng cần bảo đảm, bởi đã có câu chuyện chính quyền địa phương cam kết cho doanh nghiệp đầu tư với một quy mô nhất định, nhưng sau một thời gian nhìn thấy lợi nhuận thì lại tìm cách can thiệp để giành cho những doanh nghiệp “sân sau”. Chính vì sự thiếu công bằng và thất tín nên khối tư nhân không mặn mà tham gia.

Cùng quan điểm, nhà nghiên cứu kinh tế, kiến trúc sư, T.S Phó Đức Tùng nhấn mạnh, cần phải chỉ ra được cho các doanh nghiệp tư nhân đâu là cơ hội kiếm tiền của họ. Song cách làm này chỉ thật sự hiệu quả, khi giải quyết được bài toán “sân sau”, mới có thể thị trường hóa được các dịch vụ công.

Cần tư duy đô thị lớn xả thải ít
Đóng góp thêm giải pháp, T.S Phó Đức Tùng, cũng chỉ ra những quy chuẩn đang áp dụng hiện nay là “rất vô lý”. Với cách tư duy cho rằng, đô thị thì phải xả thải nhiều là chuyện bình thường. Nhưng trên thế giới lại cho thấy điều ngược lại. Đó là, các thành phố luôn tìm cách hạn chế xả thải, bằng nhiều quy chuẩn cao.

Để giải bài toán xả rác của Việt Nam, ông Tùng cho rằng, trước mắt chúng ta cần tập trung đầu tư xử lý tốt ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh vì nơi đây hiện chiếm từ 55% đến 60% lượng rác thải của cả nước.

Tóm lại, các ý kiến đều thống nhất rằng, Nhà nước nên từ bỏ độc quyền, mở cửa hơn nữa cho khu vực tư nhân đảm trách các dịch vụ phù hợp, bảo đảm cạnh tranh công bằng để nâng cao chất lượng cung ứng. Để làm được điều này cần các giải pháp, gồm thống nhất về pháp luật; xây dựng tiêu chí gia nhập thị trường minh bạch và công bằng, cấp các chứng chỉ chuyên môn. Đồng thời, loại bỏ tình trạng hành chính hóa giao dịch và cổ phần hóa, tư nhân hóa các đơn vị sự nghiệp dịch vụ thuần túy kỹ thuật.

Nhà nước thực hiện quyền lực và không tham gia làm dịch vụ thuần túy kỹ thuật và phải kiểm soát được rủi ro bằng biện pháp hiệu quả.