Tám tháng đầu năm 2016, nông nghiệp Việt Nam tăng trưởng âm. Lượng gạo xuất khẩu, mặt hàng chủ lực của Việt Nam (mà cũng của ĐBSCL vì đồng bằng chiếm 90% kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này), năm 2016 được điều chỉnh dưới 6 triệu tấn. Nhưng đáng lo hơn là giá gạo xuất khẩu tiếp tục giảm và thấp "đội sổ".

Biến đổi khí hậu là lý do thường được viện dẫn. Không sai. Nhưng có phải chỉ có thế?

Tái cơ cấu nông nghiệp ĐBSCL nhưng phải đặt nó trong bối cảnh các thách thức mà đồng bằng đang phải đối mặt. Phân tích sâu những điểm yếu của nông nghiệp ở đồng bằng sẽ thấy rất nhiều vấn đề cần giải quyết, trong đó nằm trong tầm tay của Nhà nước Việt Nam là xâu kết chuỗi giá trị các ngành hàng nông sản, và liên kết phát triển vùng.

I. Bối cảnh mới

ĐBSCL đang đối diện với hai thách thức toàn cầu là biến đổi khí hậutoàn cầu hóa kinh tế, hội nhập quốc tế; một thách thức khu vực là việc sử dụng nguồn nước trên thượng nguồn; và thách thức từ chính tác động của con người tại đồng bằng.

Tác động của các thách thức này tạo ra một bối cảnh mới so với cách đây chưa đến hai thập kỷ.

Cần nhấn mạnh là các thách thức trên đây không tác động riêng lẻ, mà cùng lúcliên hoàn tác động lên nhau làm cho bối cảnh không ngừng biến đổi.

Dưới đây là tóm tắt những nét chính của bối cảnh mới tại đồng bằng.

Từ biến đổi khí hậu, theo Bộ TN&MT 3 :

Lượng mưa trung bình năm, nhiệt độ trung bình năm sẽ tăng với một sự phân hóa khá rõ giữa các mùa Đông, Xuân, Hè, Thu. Điều này có ý nghĩa quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp tại đồng bằng.

Về mực nước biển dâng (NBD), trong phương án phát thải cao vào năm 2100, mực NBD ở ĐBSCL vào khoảng 99 cm đến 102 cm.

Cùng với mực NBD, biển sẽ tác động mạnh hơn lên vùng cận duyên, triều sẽ mạnh lên và truyền sâu vào nội đồng.

Ngoài ra, các tình huống cực đoan sẽ diễn ra ngày càng nhiều, với xu hướng thời gian kéo dài và cường độ ngày càng tăng.

Bão và áp thấp nhiệt đới có xu hướng đi về phía Nam Biển Đông nhiều hơn, và vào cuối mùa bão. Một "ổ bão" dường như đang hình thành trong Biển Đông.

Theo dự báo biến đổi khí hậu toàn cầu, nước ngọt sẽ ngày càng khan hiếm; nhiệt độ trung bình toàn cầu tiếp tục tăng; mực nước biển dâng uy hiếp các vùng ven biển và các châu thổ.

Từ việc sử dụng nguồn nước trên thượng nguồn

Dòng chảy trọng lực liên tục bị thay thế bằng dòng chảy bậc thang. Chế độ thủy văn, mùa thủy văn bị thay đổi.

Lượng nước trung bình năm chảy về ĐBSCL ngày càng ít. Đỉnh lũ ở Tân Châu và Châu Đốc có xu hướng giảm khá rõ. Chất lượng nước cũng vậy.

Lượng trầm tích chuyển tải về đồng bằng giảm. Cán cân trầm tích âm kéo theo sự thay đổi về hình thái của lòng sông, cồn bãi, các cửa sông và đường bờ biển của châu thổ, tổng thể thiên về bị xói lở, và lớp phủ phù sa bề mặt châu thổ mỏng đi.

Đa dạng sinh học, nguồn lợi thủy sản (nội địa và biển) giảm sút. Nhiều loài có thể bị tuyệt chủng.

Mặn sẽ theo triều (mạnh lên với NBD) xâm nhập sâu hơn vào châu thổ.

Từ tác động tại đồng bằng

Rừng tràm và rừng ngập mặn bị chặt phá trên diện tích rộng để trồng lúa và nuôi tôm. Bờ biển mất đi đệm chắn sóng và quyện giữ phù sa.

Việc khai thác cát sông, nước ngầm rất nhiều và không quản lý được làm gia tăng mực nước biển dâng thực tế và làm trầm trọng thêm sự lún chìmbị xâm thực của đồng bằng.

Tài nguyên đất bị khai thác với nguy cơ bị kiệt quệ; tài nguyên nước bị lãng phí trong khi lượng nước về ngày càng ít. Những vùng đê bao triệt để không giữ lại một lượng nước khá lớn trên châu thổ, và được các dự án kiểm soát lũ đưa nhanh ra biển.

Những vùng ngập nước đã bị chắt cạn để tăng vụ trước đây, làm mất đi khả năng trữ nước của đồng bằng. Mực thủy cấp hạ thấp cộng với khô hạn do thiếu lũ, có thể dẫn đến “xì phèn” ở các vùng đất phèn hoạt động và tiềm tàng nằm không sâu.

Bối cảnh mới tóm tắt trên đây đang ảnh hưởng to lớn đến môi trường, kinh tế, cuộc sống và kế sinh nhai của gần 19 triệu người dân đồng bằng. Hơn thế nữa, bối cảnh mới hàm chứa nhiều yếu tố bất định.

Trong bối cảnh bị đe dọa như vậy, thách thức từ hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa kinh tế buộc nền kinh tế đồng bằng phải có sức cạnh tranh cao hơn và phải có chỗ đứng trong chuỗi giá trị toàn cầu trong khi nền kinh tế toàn cầu khôi phục chậm và hàm chứa những yếu tố bất ổn không lường trước được.

Hơn bao giờ, ĐBSCL cần một nền quản lý nhà nước không chồng chéo, liên kết, phối hợp; cần những cơ chế chính sách tạo nên sức mạnh tổng hợp để vượt qua các thách thức và phát triển bền vững.

II. Tái cơ cấu nông nghiệp ở ĐBSCL

1. Phải tái cơ cấu vì mô hình tăng trưởng hiện nay (phát triển theo chiều rộng hơn chiều sâu, chú trọng lượng hơn chất) không còn phù hợp. Tài nguyên đất kiệt quệ, tài nguyên nước bị lãng phí, GDP/ng/năm của ĐBSCL tụt hậu so với bình quân cả nước; vì toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập toàn cầu không cho phép đồng bằng dẫm chân tại chỗ, càng không thể tụt hậu; vì biến đổi khí hậu, nước biển dâng và hậu quả của việc sử dụng nguồn nước trên thương nguồn, đặc biệt của việc xây dựng các đập thủy điện trên dòng chính.

2. Mục đích của tái cơ cấu nông nghiệp trong bối cảnh mới là "Khai thác tối ưu tiềm năng, lợi thế của ĐBSCL và của từng địa phương, huy động, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư để: (1) xây dựng một nền nông nghiệp “thông minh”, ít phát thải khí nhà kính, tạo ra các sản phẩm với quy mô lớn, theo chuỗi giá trị, có năng lực cạnh tranh cao trong điều kiện hội nhập quốc tế; (2) nâng cao sinh kế, tạo việc làm mới, tăng thu nhập, từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân; (3) bảo vệ môi trường".

3. Các yêu cầu đối với TCCNN

3.1. Nhận thức rõ về bối cảnh mới. Xin nhắc lại:

(a) Sự khan hiếm nước ngọt và những tình huống cực đoan sẽ xảy ra nhiều hơn, với cường độ mạnh hơn.

(b) Lũ sẽ thấp hơn, nguồn lợi thủy sản sẽ giảm.

(c) Trầm tích sẽ về ít hơn, cán cân trầm tích âm kéo theo biến đổi địa mạo lòng sông, cửa sông, bờ biển xói lở nhiều hơn bồi;

(d) Phù sa sẽ về ít hơn, độ phì của đất giảm, mặt đất sụt lún tự nhiên;

(đ) Có nhiều yếu tố bất định.

3.2 Yêu cầu đặt ra cho TCCNN từ bối cảnh mới

1. Sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả tài nguyên nước ngọt;

2. "Dưỡng đất", bồi dưỡng bù lại việc giảm phù sa;

3. Sớm tiến tới một nền nông nghiêp thông minh, ít phát thải khí nhà kính;

4. Chung sống với mặn, ngập, hạn, xem nước mặn là tài nguyên;

5. Phù hợp với môi trường và quy luật thủy văn của một châu thổ sông;

6. Phải phát triển liên kết tiểu vùng và trên quy mô toàn ĐBSCL.

7. Thực hiện cho được sự xâu kết chuỗi giá trị các mặt hàng nông sản.

8. Đặt TCCNN trong sự xâu kết giữa 3 khu vực I, II, III của nền kinh tế;

9. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, ngay từ gốc là nông dân.

4. Nội hàm của TCCNN vì sự phát triển bền vững của đồng bằng

Trong khi chờ đợi một cơ chế sử dụng nguồn nước trong đó quyền và lợi ích của mỗi quốc gia phải đi đôi với trách nhiệm và nghĩa vụ đối với cả lưu vực, cơ chế này được quy định bằng một điều ước quốc tế.

Trước mắt, cần có quy định về việc chia sẻ các số liệu thủy văn, cơ chế vận hành của đập thủy điện giữa các nước trong lưu vực, đã và sắp đi vào vận hành, phải là một yêu cầu mang tính bắt buộc để quản lý tốt nguồn nước sông Mekong và các rũi ro từ biến đổi khí hậu trong lưu vực. Quy định này là một hỗ trợ cơ bản cho TCCNN ở ĐBSCL. Công việc này thuộc trách nhiệm của Nhà nước.

(1) Rà soát lại các quy hoạch tổng thể, các quy hoạch ngành, địa phương, theo hướng phải tiết kiệm và sử dụng có hiệu quả cao nước ngọt, chung sống với hạn, mặn và ngập, khai thác nước lợ và nước mặn ở vùng III, đảm bảo nước ngọt cho sinh hoạt của người dân.

Vì có nhiều yếu tố bất định, trước khi quyết định các biện pháp công trình, phải cân nhắc hiệu quả KT-XH và tác động đến môi trường. Dành sự quan tâm thích đáng cho các giải pháp phi công trình (các giống cây, con cho vùng lợ, mặn, các vật liệu xây dựng nhẹ, chịu lực, bền cho vùng đất ngập mặn, lọc nước mặn thành nước ngọt, các chính sách để tái tạo rừng tràm, RNM, ..).

(2) Mô hình phát triển ở đồng bằng phải sát với điều kiện sinh thái của các tiểu vùng. Tiến tới một nền nông nghiêp thông minh và phát thải ít khí nhà kính.

Sản xuất lúa ít hơn nhưng gạo có giá trị xuất khẩu cao, để cho đất “nghỉ” (vì phù sa về ngày càng ít), và được bồi dường bằng luân canh với các cây họ đậu.

Tổ chức lại cuộc sống và sản xuất trong vùng mặn và ngập mặn. “Bám trụ” sống, sản xuất và làm giàu trong điều kiện mới có ý nghĩa to lớn về kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng.

Điều này khó nhưng không phải không khả thi trong điều kiện KH&CN ngày nay. Điều cần thiết là Nhà nước có cơ chế, chính sách tạo điều kiện và khuyến khích những nông dân, doanh nghiệp, nhà khoa học thành công trong việc đưa KH&CN phục vụ TCCNN.

(3) Nâng cao trình độ nguồn nhân lực. Tiến tới nông dân, xã viên HTX có kiến thức về kỹ thuật nông nghiệp, về môi trường, về quản lý tài chính và quản trị kinh doanh vì suy cho cùng mỗi nông hộ là một doanh nghiệp.

(4) Giải quyết tình trạng "thừa chồng chéo, thiếu phối hợp", quản lý tốt hơn việc khai thác tài nguyên, theo dõi các biến động do việc khai thác nguồn nước trên thượng nguồn, đo đạc và lưu trữ số liệu về khai thác cát sông, về lượng phù sa chảy về đồng bằng, về khai thác nước ngầm (sự sụt giảm của mực nước ngầm), về độ sụt lún mặt đất tự nhiên và gia tốc (do tác động của con người).

(5) Hơn bao giờ, xâu kết chuỗi giá trị, liên kết phát triển vùng là việc bức thiết phải làm trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập quốc tế.

Kết quả thí điểm liên kết phát triển kinh tế - xã hội ở các tiểu vùng không phải chỉ là tăng được bao nhiêu % so với trước liên kết, mà còn là các kiến nghị về cơ chế chính sách, những đổi mới về thể chế, những cải cách trong thiết chế nhà nước cần được Nhà nước ban hành.

(6) Để phát triển bền vững, phải giải quyết tình trạng đồng bằng đang là vùng trũng về giáo dục. Cần đầu tư nhiều hơn nữa cho hạ tầng cơ sở ở đồng bằng, tương ứng với những đóng góp của nó.

(7) Tranh thủ nguồn lực (vốn, công nghệ) từ bên ngoài, trong đó có FDI. Hợp tác có hiệu quả các dự án, chương trình do các tổ chức quốc tế, các nhà tài trợ chính phủ và phi chính phủ góp sức cùng Viêt Nam ứng phó với BĐKH sau COP 21.

III. Xâu kết chuỗi giá trị

III.1. Theo nghĩa thông thường, chuỗi là tập hợp nhiều phần tử (hay hạt) được xâu kết với nhau.

Chuỗi giá trị của một mặt hàng là tập hợp nhiều công đoạn được xâu kết với nhau, sau mỗi công đoạn giá trị mặt hàng được gia tăng. Giá trị mặt hàng ở đầu ra phụ thuộc vào sự liên tục của chuỗi.

Chuỗi giá trị các ngành hàng nông nghiệp được thể hiện như sau:

Tai co cau nong nghiep o DBSCL: Boi canh moi, xau ket chuoi, lien ket vung* - Anh 1

Xuất khẩu thô hay bán thô các mặt hàng gạo, cà phê, … là mới đi chặng đường đầu của chuỗi. Các công ty nước ngoài nhập hàng thô này, chế biến, bao bì, để tên nhãn hiệu bán ra thị trường. Họ đi tiếp chặng đường còn lại của chuỗi và hưởng trọn phần giá trị gia tăng. Tại sao chúng ta không thể làm như vây?

Cả ĐBSCL có bao nhiêu kho trữ thóc, bằng bao nhiêu % của tổng sản lượng lúa hàng năm? Khâu sau thu hoạch hầu như bị thủng.

Giá xuất khẩu của gạo Việt Nam, cho dù 5% hay 25% tấm, liên tục giảm và “đội sổ”, bắt đầu từ khâu đầu tiên giống. Nông dân rất muốn trồng các giống có giá trị xuất khẩu cao như Jasmine, Japonica, … nhưng sau khi thu hoạch giá bán hơn giá gạo IR 50404 không bao nhiêu, không bù lại giá mua thóc giống, công chăm sóc. Giống IR 50404 vẫn được trồng rộng rãi vì chuỗi bị đứt ở đầu ra. Vì đâu?

Các khu vực 1, 2, và 3 của nền kinh tế phải gắn kết với nhau thành chuỗi thì nền kinh tế mới có hiệu quả cao. Điều này ai cũng biết.

Bộ Công Thương được Quốc hội khóa XII thành lập, với mong muốn khu vực công nghiệp và khu vực thương mại, dịch vụ gắn kết với nhau. Sự gắn kết này cần được nghiêm túc đánh giá.

Các khu vực 3 và 2 phải tạo ra sức hút tốt cho khu vực 1 thì hàng nông sản mới không chỉ xuất thô hay sơ chế, giá thấp. Về vấn đề này, sự phối hợp giữa Bộ Công Thương và Bộ NN&PTNT như thế nào?

Hiện nay nhiều viện, trường hoạt động rất tốt trong từng khâu, nhưng kết quả hoạt động không được xâu kết vào chuỗi giá trị.

Trong những năm gần đây, ở ĐBSCL xuất hiện nhiều doanh nghiệp đã xâu kết các khâu của chuỗi giá trị gạo và đã chỉ ra các doanh nghiệp là tác nhân xâu kết chuỗi giá trị, nhất là họ khi biết áp dụng công nghệ thông tin vào sự xâu kết này.

Công nghệ cao (CNC) đã được áp dụng trong các khâu, và nhất là để xâu kết các khâu. Tuy nhiên CNC áp dụng vào một khâu trong một chuỗi bị gián đoạn không mang lại hiệu quả bằng CN bình thường trong một chuỗi giá trị liên tục.

Nông dân là người làm ra sản phẩm nhưng được hưởng rất ít từ phần giá trị tăng thêm của chuỗi. Để họ là động lực của TCCNN cần có khung khổ để nông dân tham gia tích cực hơn vào các chuỗi giá trị hàng nông sản và được hưởng nhiều hơn từ đó.

IV. Liên kết phát triển vùng

Tái cơ cấu nông nghiệp sẽ đi vào nếp củ nếu không thực hiện liên kết phát triển giữa các tỉnh, các tiểu vùng, và vùng ĐBSCL.

Cơ sở khoa học của các tiểu vùng cần liên kết phát triển

Dựa trên môi trường vật lý của ĐBSCL (kết quả của quá trình tương tác giữa địa chất, thổ nhưỡng và thủy văn từ khoảng 5000 – 6000 năm nay), Chương trình “Điều tra cơ bản tổng