SGTT.VN - Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là một trong ba nội dung quan trọng của tái cơ cấu kinh tế. Trên diễn đàn Quốc hội, các đại biểu còn đang bàn về những việc mang tầm vĩ mô là cần “thay đổi quan điểm vai trò then chốt của khu vực DNNN” để “cải cách triệt để”.

Trong thực tế, các hoạt động mang tầm vi mô hơn, chuẩn bị cho việc tái cơ cấu đã và đang bắt đầu với những nhận định có tính chất mẫu số chung rằng những tồn tại, yếu kém hiện nay là “biết rồi, khổ lắm, nói mãi” nhưng… chưa (ai) hành động. Dường như, có một điều gì đó chưa được khoa học trong cách tiếp cận để giải quyết bài toán này.

Ban chỉ đạo Đổi mới và phát triển doanh nghiệp (văn phòng Chính phủ) vừa trình làng dự thảo Báo cáo tổng kết sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN giai đoạn 2001 – 2010 dự kiến được tổ chức cuối tháng 11.2011; bộ Kế hoạch và đầu tư đang lấy ý kiến cho đề án Nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN; bộ Tài chính vừa thành lập ban chỉ đạo xây dựng đề án Tái cấu trúc DNNN. Đâu là điểm khác biệt giữa ba hoạt động này? Nhiều người đặt câu hỏi, sao không phải là “3 trong 1”. Theo đó, việc tổng kết đánh giá DNNN mười năm qua và vạch ra “tuyên ngôn hành động” đối với DNNN thời gian tới nên giao cho một đơn vị chủ trì và trình Thủ tướng phê duyệt để tiết kiệm thời gian, công sức, tập trung, thống nhất quan điểm, cách làm.

Trên thực tế, các phân tích, giải pháp mà các báo cáo, đề án nêu ra cũng “đụng hàng” khá nhiều. Đề án Nâng cao hiệu quả hoạt động DNNN nêu các giải pháp: tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý DNNN và mô hình tổ chức thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước; tăng cường quản lý giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của DNNN; đặt DNNN vào môi trường cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp khác, loại bỏ hình thức ưu đãi và bao cấp đối với DNNN. Dự thảo báo cáo tổng kết mười năm DNNN cũng đưa ra các giải pháp tương tự.

Một thành viên ban chỉ đạo xây dựng đề án Tái cấu trúc DNNN của bộ Tài chính bộc bạch: Đề án của bộ này tuy đang giai đoạn manh nha song cũng khó có sự khác biệt nào. Bởi yếu kém của DNNN đã được đề cập lâu nay khá rõ, giải pháp cũng được đề cập đến nhiều, chỉ có điều chưa làm được mà thôi.

Tại buổi tọa đàm lấy ý kiến cho đề án Nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN vừa qua, TS Lê Xuân Bá, viện trưởng viện Nghiên cứu và quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) – đơn vị chủ trì soạn thảo đề án cũng nói: Để dễ được thông qua thì có thể đưa những câu chung chung vào đề án, đại loại như: tiếp tục đẩy nhanh cổ phần hóa; tập trung vào ngành nghề kinh doanh chính; minh bạch hóa thông tin; đối xử bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp, không bao cấp cho DNNN… Thế nhưng, điều quan trọng là sau khi được Chính phủ thông qua thì còn khoảng cách khá xa mới đến được với thực tế.

Trên thực tế, các bất cập lâu nay về hoạt động của các DNNN đã khá rõ. Đó là việc chưa phân rõ quyền, trách nhiệm của chủ sở hữu dẫn đến chồng chéo quyền và trách nhiệm; giám sát lỏng lẻo; cổ phần hóa chậm vì không xác định được giá trị doanh nghiệp; đầu tư kinh doanh vốn nhà nước tràn lan; lương thưởng không rõ… Việc sửa đổi các nghị định, thông tư cũ để khắc phục các hạn chế này đã và đang được các bộ, ngành tiến hành và hầu hết đang được hoàn thiện khâu cuối cùng. Thế nhưng, ba dự thảo, đề án “mang tầm chiến lược” nói trên vẫn chủ yếu nêu lại những bất cập từ những quy định cũ này.

Việc tổng kết đánh giá DNNN mười năm qua và vạch ra “tuyên ngôn hành động” đối với DNNN thời gian tới, nên giao cho một đơn vị chủ trì và trình Thủ tướng phê duyệt để tiết kiệm thời gian, công sức, tập trung, thống nhất quan điểm, cách làm.

Ngay sau khi có quyết định tái cơ cấu DNNN, phóng viên đã cố gắng liên hệ với một số chuyên gia đầu ngành để tìm hiểu sâu hơn và tìm những hiến kế cho việc này. Tuy nhiên, một chuyên gia nói thẳng: không có gì mới để nói nữa, những gì cần nói đã nói hết, và cơ bản mọi người cũng đã biết. Vấn đề còn là hành động. Vị chuyên gia này dẫn chứng: vấn đề minh bạch hóa thông tin, ai cũng nói là tiến tới công bố thông tin như doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán. Thế nhưng, lộ trình cụ thể thì vẫn không được đưa ra. Ngay đề án Nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN cũng không có lộ trình cụ thể cho việc này.

Chính thực tế “bưng bít” thông tin này nên để có bộ dữ liệu chuẩn cho việc hoạch định chính sách quả là rất khó. Vấn đề lấy thông tin chuẩn để hoạch định chính sách chiếm gần hết cả thời gian buổi tọa đàm nói trên. Ông Lê Xuân Bá than rằng: Để có đánh giá đúng, đưa ra giải pháp đúng thì cần phải có số liệu chuẩn. Thế nhưng, nếu căn cứ vào số liệu “chuẩn” của tổng cục Thống kê thì quá đẹp, không cần gì phải tái cơ cấu nữa. Nhiều vị khi tham gia góp ý với ban soạn thảo đề án Nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN lưu ý rằng, số liệu của tổng cục Thống kê là tổng hợp từ báo cáo của doanh nghiệp gửi lên, tính chính xác của con số chưa được đảm bảo, nên không dùng được. Dù vậy, phó viện trưởng CIEM Trần Xuân Lịch cho biết, CIEM cũng buộc phải sử dụng vì toàn bộ số liệu về khu vực DNNN hiện nay không có nguồn nào đảm bảo hoàn toàn chính xác. Minh họa cho tình thế “chẳng đặng đừng” của mình, ông Lịch dẫn chứng một ví dụ khác, về nguyên nhân khác, rằng một tập đoàn về năng lượng mỗi lần họp, khi phát tài liệu đều đóng dấu mật, hết giờ là thu về, nên có ghi chép gì thì cũng chỉ là tham khảo, không có cơ sở để sử dụng.

Năm 2020, sẽ hoàn thành cổ phần hóa DNNN

Nhà nước sẽ giảm bớt số lượng ngành nghề liên quan của các công ty mẹ trong các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập và chuyển công ty mẹ của các tập đoàn kinh tế và tổng công ty này thành công ty cổ phần theo lộ trình thích hợp từ nay đến 2020:

Trong đó, Nhà nước sở hữu trên 75% tổng số cổ phần tại công ty mẹ của tập đoàn Công nghiệp than – khoáng sản, tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, tập đoàn Điện lực Việt Nam, tập đoàn Hóa chất Việt Nam, tổng công ty Thuốc lá Việt Nam, tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước.

Nhà nước sở hữu trên 65% tổng số cổ phần tại công ty mẹ của tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam, tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam, tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam, tập đoàn Viễn thông quân đội, tổng công ty Hàng hải Việt Nam, tổng công ty Hàng không Việt Nam, tổng công ty Lương thực miền Nam, tổng công ty Đường sắt Việt Nam.

Nhà nước sở hữu trên 35% tổng số cổ phần hoặc không nắm giữ cổ phần tại các công ty mẹ, các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước còn lại.

Các bộ, UBND cấp tỉnh đẩy mạnh sắp xếp, cơ cấu lại DNNN trực thuộc theo hướng: Nhà nước sở hữu trên 75% vốn điều lệ tại các DNNN hoạt động trong những khâu, công đoạn then chốt của các ngành nghề kinh doanh chính; giữ trên 65% vốn điều lệ tại các DNNN hoạt động trong những khâu, công đoạn then chốt của các lĩnh vực sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu của địa phương.

(Theo dự thảo đề án Nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN do bộ Kế hoạch và đầu tư soạn thảo)

Nhà nước sẽ giảm bớt số lượng ngành nghề liên quan của các công ty mẹ trong các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập và chuyển công ty mẹ của các tập đoàn kinh tế và tổng công ty này thành công ty cổ phần theo lộ trình thích hợp từ nay đến 2020:

Trong đó, Nhà nước sở hữu trên 75% tổng số cổ phần tại công ty mẹ của tập đoàn Công nghiệp than – khoáng sản, tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, tập đoàn Điện lực Việt Nam, tập đoàn Hóa chất Việt Nam, tổng công ty Thuốc lá Việt Nam, tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước.

Nhà nước sở hữu trên 65% tổng số cổ phần tại công ty mẹ của tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam, tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam, tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam, tập đoàn Viễn thông quân đội, tổng công ty Hàng hải Việt Nam, tổng công ty Hàng không Việt Nam, tổng công ty Lương thực miền Nam, tổng công ty Đường sắt Việt Nam.

Nhà nước sở hữu trên 35% tổng số cổ phần hoặc không nắm giữ cổ phần tại các công ty mẹ, các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước còn lại.

Các bộ, UBND cấp tỉnh đẩy mạnh sắp xếp, cơ cấu lại DNNN trực thuộc theo hướng: Nhà nước sở hữu trên 75% vốn điều lệ tại các DNNN hoạt động trong những khâu, công đoạn then chốt của các ngành nghề kinh doanh chính; giữ trên 65% vốn điều lệ tại các DNNN hoạt động trong những khâu, công đoạn then chốt của các lĩnh vực sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu của địa phương.