Nhiều trường hợp suy mạch máu cấp do tiêm chích thuốc đã đến gặp bác sĩ về mạch máu. Phần lớn là các tổn thương của hệ tĩnh mạch.

Suy mach mau cap do chich thuoc - Anh 1

Sự hiểu biết không chính xác về cơ thể học và không có kinh nghiệm trong vô trùng đã đưa đến biến chứng suy hại cho cả hệ thống động mạch và tĩnh mạch.

Chấn thương động mạch

Trường hợp đầu tiên được thông báo là một bệnh nhân bị hoại tử chi do chích thuốc cách đây 50 năm. Trong những năm trước đó, tổn thương động mạch do tiêm thuốc thường do thầy thuốc là BS hoặc y tá gây nên và thường là các loại thuốc ngủ họ Barbituric. Hiện nay tổn thương động mạch lại do nhiều loại thuốc khác và đã có rất nhiều báo cáo nói về vấn đề này.

Hiện nay, chưa có một tỉ lệ chính xác nào về biến chứng này ở người tiêm chích ma túy. Một số trung tâm lớn cũng chỉ báo cáo qua kinh nghiệm của họ. Các biến chứng do tiêm thuốc ma túy thì rất đa dạng. Có một báo cáo thì nói rằng có một trường hợp bị thiếu máu chi trong 5 trường hợp tiêm chích ma túy.

Với chi trên:

Động mạch cánh tay là vị trí hay bị tổn thương do chích thuốc ma túy nhất. Trong đó biến chứng giả phình động mạch là hay gặp nhất. Những bệnh nhân bị biến chứng này thương có các triệu chứng của viêm mô tế bào, đau kết hợp với nhiễm trùng hoặc thiếu máu ở vùng xa của chi. Thiếu máu nặng thường chiếm trong 30% các trường hợp. Trong khi đó, nhiễm trùng cơ thể lại không là vấn đề lớn. Trong một nghiên cứu với 32 bệnh nhân bị tổn thương của động mạch chi trên do tiêm ma túy thì chỉ có 12% là có cấy máu dương tính. Những túi phình động mạch nhiễm trùng như trên phối hợp với tiêm ma túy vào lòng động mạch đòi hỏi cần phải điều trị thắt động mạch và lấy đi túi phình ngay. Vấn đề tái tạo dòng máu cấp không được đặt ra. Cách điều trị này có thể gây ra một vài biến chứng, trong đó nặng nề nhất là hoại tử các ngón tay và cần phải đoạn chi.

Chi dưới:

Khoảng 3/4 các tai nạn do tiêm ma túy vào động mạch đều xảy ra ở chi dưới. Giả phình động mạch là biến chứng thường xảy ra nhất, kế đó là rò động tĩnh mạch. Triệu chứng hay gặp nhất: bệnh nhân đau đớn nhiều, khối u đập theo nhịp mạch và thường đi kèm với viêm mô tế bào. Khi thăm khám có thể thấy tiếng thổi ngay trên khối u, nhiễm trùng khu trú, cấy máu dương tính có tỉ lệ cao hơn trong những trường hợp phình động mạch ở chi trên.

Đầu và cổ:

Vùng đầu và cổ là nơi ít bị tổn thương nhất ở những bệnh nhân sử dụng ma túy. Thỉnh thoảng lắm mới có người sử dụng những vị trí này và thường nhờ người khác tiêm dùm.

Phổi:

Phình đa động mạch phổi nhiễm trùng thường xảy ra thứ phát sau khi dùng ma túy bằng đường tĩnh mạch. Bệnh nhân thường có các biểu hiện: khó thở, xanh tím và ho ra máu. Khám lâm sàng đôi khi nghe thấy tiếng thổi tâm thu thô ráp ở khoảng liên sườn số hai bên trái. Trên điện tâm đồ có thể thấy hình ảnh dày thất phải và trục phải. Rất khó kiểm soát được các tổn thương này vì tổn thương đa dạng và nằm sâu ở vị trí trung tâm. Có thể có tổn thương ở cả hai bên, phẫu thuật thắt động mạch được dùng trong một vài trường hợp. Cùng với việc gia tăng số người nghiện, khả năng xuất hiện các phình động mạch phổi nhiễm trùng càng cao. Tăng áp động mạch phổi kết hợp với u hạt bột talc có thể xảy ra khi bệnh nhân sử dụng các thuốc gây nghiện uống để tiêm tĩnh mạch.

Điều trị

Việc điều trị cơ bản đầu tiên là phải đánh giá và làm giảm đau, bảo vệ chi, phòng ngừa hạ thân nhiệt và thải hết các độc chất ra khỏi bệnh nhân bằng đường tĩnh mạch. Điều trị lâu dài là phải ngưng ngay sử dụng ma túy, hạn chế hút thuốc lá. Việc chụp mạch máu nên được tiến hành sớm với một catheter đưa vào phía trên vị trí mạch máu bị tổn thương. Với động mạch đồ có thể thấy vị trí của động mạch bị tổn thương như: mảnh nội mạc, giả phình động mạch, dò động tĩnh mạch, tắc mạch, nhất là tình trạng co thắt mạch và tắc mạch ở đầu xa của động mạch.

Thuốc giãn mạch:

Thuốc giãn mạch có thể đóng một vai trò quan trọng trong điều trị thiếu máu cấp tính thứ phát do sử dụng ma túy. Tolazoline với liều 25 - 50mg được sử dụng có hiệu quả khi tiêm vào đầu gần của động mạch. Nó có tác dụng làm giãn các động mạch tiền mao mạch và mở các shunt động tĩnh mạch tiền mao mạch ở da. Một số thuốc giãn mạch khác có thể được dùng như: Verapramin, Phentolamine. Thuốc giãn mạch còn có tác dụng trên hệ tuần hoàn bàng hệ trong trường hợp các mạch máu lớn bị tắc nghẽn.

Thuốc kháng đông:

Những nghiên cứu trên động vật thực nghiệm cho thấy rằng: Heparine có vai trò quan trọng trong giảm mức độ hoại tử do tiêm Thiopental. Trên người cũng cho thấy Heparine làm giảm các tổn thương của ngón tay trên những bệnh nhân này nhưng ít nhất là phải sau 4 ngày.

Thuốc làm tan cục máu:

Những bệnh nhân có hiện tượng tắc nghẽn hoàn toàn hoặc kém đáp ứng với các thuốc làm giãn mạch cần được điều trị bằng thuốc làm tan cục máu đông. Một liều thấp của Streptokinase được sử dụng có hiệu quả trên những bệnh nhân bị tắc động mạch bàn tay do các nguyên nhân khác hơn là do tiêm ma túy. Thêm vào đó nếu đặt được catheter ngay trên chỗ tổn thương thì liều lượng thuốc sử dụng có thể thấp hơn do tác dụng trực tiếp trên khối thuyên tắc. Một loại thuốc khác là Urokinase có thể được dùng tốt hơn do ít bị dị ứng nhưng đắt tiền hơn.

Chất hoạt hóa Plasminogène ở mô được dùng ngày càng nhiều trong những trường hợp thuyên tắc động mạch. Tác dụng làm tan cục máu đông xảy ra nhanh hơn Streptokinase và an toàn hơn cả Streptokinase và Urokinase.

Việc sử dụng các thuốc làm tan cục máu này có thể gây ra tình trạng tán huyết toàn thân do đó cần phải theo dõi kỹ hàm lượng fibrinogen trong huyết tương và các xét nghiệm đông máu khác.

Steroids:

Hiện tượng viêm nội mạch máu do hóa chất đã có một số công trình nghiên cứu cho thấy hiện tượng này được cải thiện nhờ tác dụng của Dexamethasone. Liều Dexamethasone đầu tiên sử dụng dao động rất rộng từ 40 - 70mg, sau đó là 40mg cho mỗi sáu giờ bằng đường tiêm tĩnh mạch hoặc uống có tác dụng giảm dần tình trạng hoại tử. Cần chú ý đã có trường hợp thiếu máu ngón tay được báo cáo do tiêm methylprednisolone acetate.

Phẫu thuật:

hẫu thuật mở bao cân được chỉ định trong những trường hợp phù nặng hoặc hội chứng chèn ép khoang. Nếu thuốc tiêm vào lớp dưới cân cơ và làm hoại tử phát triển, phẫu thuật cắt lọc cần được thực hiện nhằm loại bỏ mô hoại tử và giảm áp trong bao cân. Với những tổn thương của mạch máu khu trú có thể dùng phẫu thuật lấy đi cục máu đông, phục hồi nguyên phát cắt bỏ hoặc thắt mạch máu. Với những động mạch nhỏ có thể dùng phẫu thuật mở động mạch và tưới rửa với heparine pha với nước muối sinh lý.

PGS.TS. NGUYỄN HOÀI NAM

(SKĐS cuối tuần)