Nhà máy thủy điện Sơn La.

Và hơn thế, mỗi công trình mọc lên là một tượng đài sinh động về sự hy sinh của nhiều thế hệ cán bộ, nhân dân các dân tộc Tây Bắc vì tương lai của đất nước. Nơi từng là bản nhỏ Hua Lon của xã Ít Ong thuộc huyện Mường La (Sơn La) giờ mọc lên nhà máy thủy điện lớn nhất ở khu vực Đông - Nam Á. Một con đập như trái núi bằng bê-tông cao 136 mét, dài gần nghìn mét lừng lững chắn ngang sông Đà. Nước đã được tích đến chuẩn cao trình. Mặt hồ xanh biếc, ngời ngợi như tấm gương trời cho những ngọn núi vây quanh. Dưới đập, cửa xả đáy đang mở, nước tung bọt quyện thành những vầng mây trắng xốp bồng bềnh ngang lưng đập, khiến người ta có cảm giác những đám mây trời trên đỉnh núi xanh mờ kia đã rủ nhau sà hết xuống đây rồi. Cảnh sắc thật hùng vĩ và ngoạn mục. Kỹ sư Lê Văn Nam, Trưởng phòng kỹ thuật Ban điều hành dự án của Tổng công ty Sông Đà thuộc lòng từng thông số, kể cho chúng tôi nghe: Con đập bê-tông lớn nhất trong hệ thống thủy điện cả nước này được thi công bằng công nghệ đầm lăn ròng rã hơn hai năm trời. Có tháng đổ đến 180 nghìn m3. Một tổ máy hợp lại có trọng lượng đến 2.700 tấn, một máy biến áp nặng 282 tấn. Siêu trường, siêu trọng đến thế, nên các thiết bị từ cảng Hải Phòng theo đường bộ lên đến Hòa Bình là phải chở bằng sà-lan dọc lòng hồ Hòa Bình gần 200 km. Nếu mùa nước lớn có thể đến được Tạ Bú, nhưng mùa cạn nước như năm nay chỉ đến được Tà Hộc rồi phải đi đường bộ thêm 70 km nữa. Đưa được thiết bị vào đến công trường chẳng khác nào bộ đội kéo pháo lên Điện Biên Phủ năm xưa, cơ man là gian khó. Nhưng kỷ lục đáng nói nhất là tiến độ thi công đã được rút ngắn đến hai năm. Bí quyết kỹ thuật của kỷ lục này chính là áp dụng công nghệ thi công đầm lăn và nhiều tiến bộ kỹ thuật, công nghệ hiện đại khác mà qua nhiều công trình thủy điện lớn trên mọi miền đất nước, đội ngũ xây dựng Việt Nam đã đúc kết và làm chủ. Kỹ sư Lê Văn Nam nhẩm tính: Với công suất 400 MW, một tổ máy mỗi ngày sản xuất được lượng điện trị giá năm tỷ đồng. Nếu vận hành đủ sáu tổ máy với tổng công suất 2.400MW thì mỗi ngày có 30 tỷ đồng. Có nghĩa về đích sớm hai năm, chúng ta có thêm gần 22 nghìn tỷ đồng. Phó Giám đốc Ban điều hành dự án thủy điện Sơn La Trần Văn Phòng chính là chàng công nhân trẻ trên công trường thủy điện Hòa Bình năm xưa. Sau 30 năm lăn lộn với các công trình thủy điện ở mọi miền đất nước, anh lại về sông Đà ngăn đập Sơn La. Anh tâm sự với chúng tôi mà như tự bạch: 'So với cuộc ngăn sông Đà ngày ấy, bây giờ chúng ta đã tiến rất xa. Không chỉ công nghệ hiện đại, mà kỹ năng làm chủ công nghệ thủy công của đội ngũ cán bộ và công nhân kỹ thuật đã rất tinh thông. Hơn ba chục năm ngăn sông làm thủy điện, chưa bao giờ mình thấy làm nghề 'sướng' như ở công trình Sơn La này.' Anh nhớ lại, ngày ấy đội ngũ kỹ sư của mình chỉ đóng vai phụ, theo kiểu 'cầm tay chỉ việc', bởi hầu hết các khâu kỹ thuật đều do chuyên gia nước ngoài đảm nhiệm. Các chức vụ đội trưởng, đội phó trở lên đều phải là các bậc cao niên, từng trải. Vậy mà giờ đây, một kỹ sư mới 30 tuổi như Lê Văn Nam đã có thể đảm nhiệm công tác điều hành kỹ thuật cho cả đại công trường với lực lượng lao động có khi lên tới hàng chục nghìn người cùng hệ thống thiết bị thi công hiện đại và đồ sộ. Nếu gọi miền Đông Bắc của Tổ quốc là vùng mỏ 'vàng đen' thì Tây Bắc xứng đáng là vựa 'than trắng' và công cuộc khai mỏ nơi đây đang bước vào chặng quyết liệt, quy mô và hiện đại. Với ba bậc thang chính trên sông Đà và nhiều con sông đầy tiềm năng khác, khu vực Tây Bắc đang có hàng trăm dự án thủy điện lớn nhỏ đang triển khai. Riêng tỉnh Sơn La đã có 57 dự án. Chỉ với một quãng chưa đầy 10 km trên đường lên huyện lỵ Mường La, chúng tôi đã đếm được ba nhà máy thủy điện: Nậm La, Nậm Pàn rồi Nậm Bú... công suất mỗi nhà máy vài chục 'mê'. Có những con sông như Nậm Chiến, một chi lưu của sông Đà cũng có đến ba nhà máy. Lên công trình Thủy điện Sơn La vào dịp cuối đông, không khí công trường những ngày nước rút cho việc chuẩn bị phát điện tổ máy số 1 khá tất bật. Thế nhưng được biết một lực lượng lớn quân thiện chiến đã rút lên Lai Châu lập 'trận địa' mới rồi. Thì ra đội quân 'Sơn tinh' hùng hậu nhất nước này đang chuẩn bị gối vụ một công trình lớn khác, đó là Nhà máy Thủy điện Lai Châu công suất 1.200 MW. Sau Sơn La là Lai Châu, rồi Điện Biên, rồi nhiều nơi khác nữa, những công trình thủy điện sẽ tiếp tục mọc lên, để khoảng trống thiếu điện trong sự nghiệp phát triển đất nước của chúng ta nhanh chóng được khỏa lấp. Đứng trên đỉnh đập mà thưởng cảnh bóng núi hình mây lồng lộng gương hồ, rồi nghe thanh âm thác nước cuồn cuộn dưới xa, bất giác tôi nhớ đến chiều thu năm ấy, gần hai trăm bà con người Thái của bản Hua Lon bùi ngùi tháo dỡ nhà cửa, vượt núi lên cao nguyên Mộc Châu. Đất không đủ chỗ dựng cả 39 nóc nhà, bản nhỏ đành phải chia đôi: 16 hộ ở lại bản Ôn, còn 23 hộ khác đến định cư bên bản Dọi. Năm năm rồi có lẻ, đâu đó trên cao nguyên đầy sương trắng những ngày cuối đông này, người Hua Lon hẳn chưa nguôi ngóng về ngôi làng xưa đã ở lại bên sông Đà để hiến mình làm đôi vai 'gánh' cả con đập lớn nhất Việt Nam. Không chỉ người ra đi để nhường bản làng lại cho lòng hồ thủy điện, mà cả với những người dang tay, chia đất đón đồng bào từ vùng lòng hồ đến tái định cư cũng ra sức chung lưng đấu cật. Nếu các lực lượng thi công đã lập được chiến công rạng rỡ, hoàn thành công trình bảo đảm chất lượng, về đích trước hai năm thì việc tổ chức cuộc di dân khổng lồ với gần hai chục nghìn hộ của ba tỉnh Sơn La, Lai Châu, Điện Biên là một thắng lợi mang tính lịch sử của cả hệ thống chính trị mà đứng mũi chịu sào là cấp ủy và chính quyền địa phương. Sơn La là tỉnh có đông đồng bào phải di dời nhất, với 12.584 hộ. Hôm chúng tôi về Mường La, đồng chí Bí thư Huyện ủy Lạc Hồng Mai nói rằng, đưa được hàng vạn hộ dân ra khỏi khu vực công trường trước hai năm so với kế hoạch là một kỳ tích to lớn, nhưng để ổn định cuộc sống đồng bào theo đúng tinh thần chỉ đạo của Trung ương Đảng thì hãy còn là một chặng đường rất khó khăn. Bởi vậy, trong mọi quyết sách, kế hoạch phát triển của địa phương, Đảng bộ và chính quyền luôn đặt vấn đề này lên hàng đầu. Tôi nhớ mãi câu chuyện của đồng chí Phan Đức Chính, Trưởng ban quản lý Dự án di dân huyện Mường La, rằng suốt năm năm nay, di dân đã trở thành vấn đề thời sự trong đời sống của mỗi cán bộ ở địa phương. Ăn cũng nghĩ đến chuyện di dân, ngủ cũng mơ đến chuyện di dân, thậm chí gặp nhau ở đám cưới, đám giỗ đề tài di dân cũng được bàn luận sôi nổi nhất. Ở Mường La, hơn một nửa số dân phải di dời, thế nhưng nhắc đến hộ nào, cán bộ ban quản lý dự án đều biết rất tường tận, hộ bao nhiêu người, nhà có mấy sào đất, đi hôm nào, đến ở đâu, tình hình thuận lợi, khó khăn và tiến độ giải quyết... đều được cập nhật. Bởi thế hơn ai hết, các anh, các chị là người hiểu rõ nhất sự hy sinh của đồng bào các dân tộc, và bởi thế cuộc sống của bà con trong các khu tái định cư luôn là nỗi canh cánh trong lòng mỗi cán bộ địa phương. Hàng chục nghìn hộ rời làng bản là hàng chục nghìn nỗi khó khăn riêng có mà mỗi cán bộ ở địa phương, cơ sở hiểu thấu và nguyện theo lo cùng đồng bào. Sau Thủy điện Sơn La rồi còn nhiều công trình kinh tế - xã hội quan trọng khác nữa sẽ mọc lên trên mọi miền Tổ quốc. Và như ở Hua Lon, mỗi công trình là một sự tích về những nỗ lực của cả hệ thống chính trị, sự cống hiến và hy sinh của nhiều lực lượng tham gia, mà trước hết là của đồng bào các dân tộc. Tôi tin những sự tích ấy sẽ được viết tiếp ở nhiều miền quê khác trên con đường đi tới tương lai giàu đẹp của đất nước.