Sự cố đường hầm dẫn dòng tại đập thủy điện Sông Bung 2 (Quảng Nam) bị vỡ mới đây cuốn trôi nhiều người, máy móc, nhà cửa, một lần nữa gióng lên hồi chuông cảnh báo về mức độ an toàn của các công trình thủy điện hiện nay. Trao đổi với ĐTTC, GS. PHẠM HỒNG GIANG (ảnh), nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp - Phát triển nông thôn, Chủ tịch Hội Đập lớn và phát triển nguồn nước Việt Nam, cho biết việc quản lý lỏng lẻo, phát triển không theo quy hoạch, đặc biệt là thủy điện nhỏ, đang để lại nhiều nguy cơ mất an toàn. Chưa thấy nơi nào sự cố thủy điện nhiều như Việt Nam.

PHÓNG VIÊN: - Ông có bình luận gì về sự cố ở thủy điện Sông Bung 2?

Su co thuy dien do quan ly kem - Anh 1

GS. PHẠM HỒNG GIANG: - Sự cố xảy ra ở thủy điện Sông Bung 2 tôi mới được tiếp cận qua báo chí. Có thể thấy lũ thượng nguồn đổ về phá vỡ cửa vào đường hầm dòng thi công và gây xói lở nghiêm trọng chân đập tại hạ du đập thủy điện Sông Bung 2. Trước hết, tác động trực tiếp rõ ràng là từ dòng lũ, còn cụ thể hơn cần được điều tra, đánh giá đầy đủ. Tôi cho rằng về nguyên tắc, thiết kế công trình thủy điện Sông Bung 2 phải xem xét tất cả vấn đề có thể xảy ra, đảm bảo an toàn khi gặp lũ lớn đối với toàn bộ công trình, trong đó có đường hầm dẫn dòng thi công. Sự cố đã xảy ra cho thấy đây là lỗi kỹ thuật, thi công của công trình. Hồ mới tích nước nên mực nước chưa cao đã vỡ cửa vào đường hầm. Như vậy, giả sử bây giờ chưa vỡ nhưng sau này khi hồ tích đầy nước cũng sẽ vỡ nếu không có biện pháp khắc phục. Và nếu vỡ đập trong trường hợp nước đã tích đầy càng nguy hiểm, không thể lường được thiệt hại ghê gớm ở hạ du.

Theo tôi lấp dòng thời điểm này không thích hợp. Vì thường công việc này phải làm trong mùa khô. Lúc này ở miền Trung đã vào mùa mưa nên rất khó có thể đảm bảo kỹ thuật. Đây mới chỉ là một hạng mục gặp sự cố. Nghi vấn về chất lượng các hạng mục khác cũng cần được làm sáng tỏ, xác thực và vì thế phải kiểm tra, đánh giá mức an toàn cho đầy đủ.

- Dường như năm nào cũng có dự án thủy điện gặp sự cố. Theo đánh giá của ông, mức độ các sự cố thủy điện ở Việt Nam như thế nào?

- Trên thế giới thủy điện phát triển rất mạnh. Bất cứ nơi nào có thể khai thác được nguồn thủy năng người ta đều làm. Thủy điện được đánh giá là năng lượng sạch và tái tạo. Ở nhiều nước, nguồn thủy năng dồi dào và được tận dụng ở mức rất cao. Chẳng hạn như ở Na Uy, 97% tổng sản lượng điện là từ thủy điện. Trong điều kiện cần hạn chế các năng lượng phát ra từ dầu, than, người ta còn có chủ trương tận dụng làm cả thủy điện nhỏ ở những vùng núi cao có địa thế hiểm trở.

Bản chất thủy điện không có lỗi. Đó là nguồn năng lượng quan trọng. Thủy điện hiện chiếm hơn 30% tổng lượng điện quốc gia nên không thể bài bác thủy điện được. Giả sử không có thủy điện chúng ta sẽ lâm cảnh cứ 3 ngày có 1 ngày mất điện. Nhưng trong phát triển thủy điện không thể quản lý tùy tiện từ khâu quy hoạch, khảo sát, thiết kế, vận hành.

Tuy nhiên tôi chưa thấy nơi nào xảy ra nhiều sự cố thủy điện nhỏ và vừa như ở Việt Nam, hầu như năm nào cũng có. Việc làm thủy điện của ta còn thiếu trách nhiệm khi việc quản lý quy hoạch và quá trình đầu tư được phân cấp cho các địa phương không có người am hiểu chuyên môn. Rồi ai cũng có thể làm chủ đầu tư. Xoay sở ra dự án sau đó tìm cách vay ngân hàng để đầu tư, chọn đơn vị thiết kế rẻ, đơn vị thi công thiếu kinh nghiệm, cho thấy ý thức trách nhiệm của chủ đầu tư rất kém. Với thực trạng ẩu, làm bừa, cứ nghĩ thủy điện ai cũng làm được, việc để xảy ra liên tiếp sự cố thủy điện nhỏ và vừa thời gian qua là hệ quả tất yếu.

- Theo ông cấp phép thủy điện ở nước ta có dễ dãi và tại sao nhiều người quan tâm đầu tư thủy điện?

- Cấp phép thủy điện phải dựa trên cơ sở quy hoạch. Nhưng hiện nay quy hoạch đang bị buông lỏng nên nhiều khi có phần dễ dãi với thủy điện. Nhiều người muốn đầu tư dù suất đầu tư ban đầu cho thủy điện cao nhưng làm xong rồi chi phí quản lý vận hành lại rất nhỏ. Theo tôi biết hiện có doanh nghiệp tiềm lực yếu vẫn làm thủy điện. Vì có dự án vẽ ra cho đẹp sẽ dễ thuyết phục để được vay tiền. Vay được làm thủy điện rồi yên tâm thu lợi. Nếu rủi ro xảy ra, tiền vay trở thành nợ xấu, vẫn cứ yên tâm vì không phải lo trả.

- Vai trò thủy điện đã rõ. Vậy tác động tiêu cực của thủy điện ở Việt Nam thể hiện ở những vấn đề nào, thưa ông?

- Trước hết, vì làm tràn lan nên chất lượng nhiều công trình thủy điện kém, xảy ra nhiều sự cố như đã nói ở trên. Ngoài ra, một số thủy điện không tuân thủ yêu cầu về môi trường. Các hồ đập nói chung gây ra những tác động tiêu cực như thay đổi dòng chảy, ảnh hưởng môi sinh những loài thủy sinh, hồ chứa gây ngập nhiều diện tích rộng. Nếu quản lý yếu kém, có tình trạng lợi dụng làm thủy điện để phá rừng.

Khi làm thủy điện, để nâng cao hiệu quả phát điện, việc chuyển nước xuống hạ du sang lưu vực khác là việc thường gặp. Vì thế, bắt buộc phải xả lưu lượng nhất định cho đoạn sông mà dòng chảy đã bị chuyển đi để không ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất của người dân địa phương. Các nước khác làm việc này rất nghiêm. Ở nước ta nhiều nơi chưa thực hiện tốt nên nơi này nơi kia dân kêu rất nhiều.

Chống lũ cũng tương tự. Đáng lẽ những hồ thủy điện có dung tích lớn phải tham gia chống lũ. Đằng này lại giữ mức nước hồ cao trước lũ, khi lũ lên lại cho xả nước trong hồ cùng lúc với lũ tự nhiên, làm tăng thêm lượng lũ xuống hạ du, gây ngập úng. Chống hạn cũng vậy. Khi hạn hán, hồ thủy điện vẫn tích nước để tăng công suất điện trong mùa mưa sắp đến, không xả nước về hạ du chống hạn. Những điều này phải được ghi rõ trong cấp phép dự án thủy điện và buộc chủ đầu tư phải tuân thủ nghiêm túc.

- Khi làm Thứ trưởng Bộ NN-PTNT, phụ trách thủy lợi, ông có bao giờ phải tranh luận về việc từ chối dự án thủy điện nào?

- Có đôi ba trường hợp tôi phải tranh luận nhiều. Chủ đầu tư nhất định đòi làm bằng được, nhưng xét lợi ích tổng hợp mình không đồng ý cho họ làm hoặc cho làm nhưng phải điều chỉnh dự án để hài hòa yêu cầu phát điện với mục tiêu khác như cấp nước, tưới tiêu của địa phương đó. Mình phải giữ được nguyên tắc nguồn nước, nguồn tài nguyên quý, phải nhằm đa mục tiêu, đạt hiệu quả khai thác cao nhất phục vụ dân sinh, kinh tế

- Xin cảm ơn ông.

Đăng Tuân (thực hiện)