Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, rất nhiều đồng chí lãnh đạo Khu ủy Khu 5, Đặc khu ủy Quảng Đà được phân công phụ trách Đà Nẵng hoặc về đứng chân hoạt động, chỉ đạo phong trào đô thị Đà Nẵng. Trong đó, Nguyễn Duy Hưng (Sáu Hưng)-người trực tiếp tham gia giải phóng Đà Nẵng, nguyên Phó Ban thành phố của Khu ủy Khu 5 đã có công lớn trong việc xây dựng được "trận địa lòng dân" tại các căn cứ lõm như: K20, Trung Lương, Lỗ Sài... Ông và nhiều đồng đội cùng thời đã sống một đời trong gian lao khổ cực, bền bỉ chiến đấu chống kẻ thù, một lòng một dạ kiên trung theo Đảng...; Người cán bộ lão thành vừa thanh thản ra đi ở tuổi 94. Báo Công an TP Đà Nẵng trân trọng giới thiệu bài viết của nhà báo Hồ Duy Lệ về cuộc đời hoạt động cách mạng sôi nổi của ông Sáu Hưng.

Sau Hung - mot nguoi Cong san! - Anh 1

Ông Sáu Hưng thăm một cơ sở hoạt động Cách mạng trong kháng chiến.

Tên khai sinh của ông là Trần Văn Nhung. Lần đầu làm lý lịch, lấy tên là Trần Hữu Dung. Anh em cơ sở thời chống Pháp người gọi anh Năm, người gọi Năm Dung. Sau này, thời chống Mỹ ông lấy tên Nguyễn Duy Hưng, anh em thì gọi Sáu Hưng. Quê ông ở xã Tam Hòa, xưa gọi là Phú Vinh. Sinh năm Nhâm Tuất - 1922, được 6 tháng tuổi thì cha qua đời, mẹ mới 18 tuổi, phải dựa vào gia đình ông ngoại làm lụng kiếm sống nuôi con. Mẹ ông là con thứ 8, người cậu thứ 9 là Võ Đăng Sum, được tổ chức cài làm lý trưởng xã Phú Vinh.

Cậu Chín mở trường để dạy đám học trò nhỏ, con nhà nghèo trong xã. Ông Bùi Giùm là thầy giáo của Sáu Hưng ở ngôi trường của cậu. Sáu Hưng thường đến nhà dì Út chơi, một hôm, ông gặp người yêu của dì Út là thầy Lê Thuyết, dạy trường tiểu học Hòa Xuân. Từ chỗ hiểu lờ mờ những lời của cậu Chín, của thầy Bùi Giùm, lớn dần lên, ông mới cảm nhận, hiểu hơn những lời về tình yêu quê hương, yêu Tổ quốc của thầy Lê Thuyết. Lần đầu tiên được anh em bạn trong làng rủ đi dự một đêm mít-tinh do xã tổ chức, tại nổng đất nổi giữa đồng, bà con gọi là nổng Đất Đỏ. Hình ảnh thầy Lê Thuyết đứng trên nổng cát cao diễn thuyết về Việt Minh, trong đêm còn đọng mãi trong ông. Lần đầu tiên nghe những từ Việt Minh, đánh Pháp, đuổi Nhật, ông không hiểu nhiều, song thấy nó quan trọng và lớn lao. Thầy Bùi Giùm tham gia cách mạng từ phong trào 36 - 39. Sau 1945, thầy Bùi Giùm làm Phó Bí thư Huyện ủy Tam Kỳ. Sau một thời gian học võ, vào một đêm tháng 2-1940, Sáu Hưng và 5 thanh niên trong làng được đưa đến miếu Bà Vàng trên nổng cát giữa đồng, phía trước nhà. Ông Trương Kiểm (Trương Công Thuận) đứng ra tuyên bố kết nạp các chàng trai vào tổ chức Thanh niên cứu quốc xã Phú Vinh. Sau này, khi cậu Chín mất chức xã trưởng, bị bắt, ông mới biết cậu từng nuôi giấu ông Trương Kiểm (Việt, Tư Thuận) và bà Phạm Thị Đợi (Cơ) trong nhà cậu. Khi là thanh niên cứu quốc, Sáu Hưng được gia nhập vào đội tự vệ mật mang tên Vũ Hùng. Sau lần dự mít-tinh ở xã, ông theo bà con trong làng lên dự mít-tinh ở trong khu rừng ở núi Quảng Phú (Tam Kỳ). Cuộc mít-tinh có hàng ngàn người dự, lần đầu tiên ông thấy lá cờ đỏ sao vàng. Sau này ông biết, thầy Lê Thuyết là một cán bộ cách mạng. Cách mạng tháng 8 thành công, thầy Lê Thuyết làm Chủ tịch H. Tam Kỳ.

Sau khi cướp chính quyền năm 1945, Sáu Hưng nhận nhiệm vụ Ủy viên thư ký Ủy ban cách mạng lâm thời xã. Được các ông Lê Tạt, Bùi Giùm giới thiệu, năm 1946, ông được kết nạp vào Đảng. Sau đó, ông nhận nhiệm vụ Bí thư chi bộ kiêm chủ nhiệm Việt Minh xã Hòa Vinh Thạnh. Năm 1949, ông đang học gần xong chương trình bổ túc văn hóa của trường trung học bình dân, tại Tam Xuân thì được cấp trên điều ra làm cán bộ tổ chức Thành ủy Đà Nẵng. Tháng 3-1950, khu Nam tổ chức đại hội Đảng bộ tại thôn ba xã Điện Ngọc, ông được bầu làm Bí thư. Sau khi ký Hiệp định Genève 1954, đang ở quê nghỉ phép thì ông Hữu, ông Xuyến, cán bộ Thành ủy Đà Nẵng vào nhà thăm và đưa cho ông quyết định không đi tập kết, do Bí thư Nguyễn Thành Long ký. Trở lại khu Nam, ông đến nhà Lê Giáo ở Nại Nam, đang làm trong Hội đồng hương chính của chính quyền Diệm vừa mới thiết lập. Con của Lê Giáo là Lê Văn Xuyến, trong kháng chiến một là Phó Chủ tịch Ủy ban Liên Việt khu Nam, sau đình chiến về làm công nhân khuân vác ở cảng Đà Nẵng, là cơ sở tin cậy. Để có công ăn việc làm mà sống hợp pháp với bà con, không ai để ý, ông đóng vai thợ nề, tập hợp được một đội, đi bắt mối với chủ thầu, nhận xây dựng. Cứ sáng ra, từ Nại Nam ra cầu De Lattre, có xe đón, đưa tới nơi xây dựng. Vừa thi công xây dựng những công trình, ông xây dựng thêm một số cơ sở cách mạng. Từ đó tạo được một căn cứ lõm làm nơi đứng chân công tác, tập hợp lực lượng, tổ chức đấu tranh vì dân sinh, dân chủ.

Cuối tháng 3-1955, Sáu Hưng bị bắt giam ở ty Gia Long. Tra hỏi gì, ông chỉ khai là dân tản cư, ở vùng Việt Minh, hồi cư về làm thợ hồ kiếm sống. Sau một tháng tra hỏi, không moi được tin gì, chúng đưa sang nhà lao Con Gà rồi tìm cách trốn khỏi nhà lao. Sau đó ông được giao phụ trách văn phòng Thành ủy. Công việc chủ yếu lúc đó là tổ chức mạng lưới giao liên để nối liên lạc từ vùng ven vào nội thành. Cuối năm 1957, Sáu Hưng được tổ chức đưa ra miền Bắc chữa bệnh rồi được phân về công tác ở khu phố Đồng Xuân - Hà Nội. Giữa tháng 8 - 1959, Sáu Hưng được tổ chức Thành ủy Hà Nội gọi và trao quyết định về Nam. Sáu Hưng được bố trí theo đoàn Quảng Nam, ông Hồ Nghinh dẫn đầu. Tháng 10 - 1959, đoàn đặt chân đến đất Quảng Nam. Trong đoàn chỉ có hai người được phân công về Đà Nẵng là Sáu Hưng và ông Nguyễn Hữu Khoang. Cuối năm 1960, Sáu Hưng và ông Nguyễn Hữu Khoang, được giao nhiệm vụ hình thành Ban Cán sự thành phố Đà Nẵng. Thời gian đầu Sáu Hưng về sinh hoạt Đảng với các cán bộ Hòa Vang, theo đội công tác đi phát động quần chúng. Những buổi chiều, ra bìa rừng, ngồi chờ trời tối hẳn để xuống núi, nhìn những ánh đèn dưới phố xa, lòng dạ cồn cào, Sáu Hưng nghĩ, không biết đến khi nào mới xuống được thành phố để gặp lại những người thân yêu ngày nào từng sống chết có nhau. Tháng 1- 1963, tại làng Đào, huyện Hiên, đại hội Đảng bộ Quảng Đà lần thứ V, bầu ông Hồ Nghinh làm Bí thư Tỉnh ủy, kiêm Bí thư Thành ủy Đà Nẵng. Tỉnh ủy cử hai Tỉnh ủy viên là Sáu Hưng và Nguyễn Hữu Khoang về phụ trách bàn đạp Đà Nẵng. Những ngày ở lại trong dân, tiếp xúc những cơ sở đầu tiên mới gầy lại, Sáu Hưng thấy vùng sông nước ở phía Đông - Nam thành phố Đà Nẵng có địa lợi và những người dân vô cùng quý, có thể xây nên một bàn đạp để tiếp cận nội ô Đà Nẵng. Riêng ở Trung Lương, có khá đông anh chị em ra làm công nhân khuân vác ở cảng Đà Nẵng. Hằng ngày, sáng sớm đi, chiều muộn về, tay xách, vai mang những gì họ cóp nhặt được, có cả vải vóc, thuốc tây. Và rất quý là vô số những câu chuyện, rất nhiều những thông tin diễn ra hàng ngày, ở một thành phố đang xô bồ. Sáu Hưng trình bày với ông Hồ Nghinh và ông Hai Chơn (Mai Đăng Chơn, Bí thư Hòa Vang) về phương án xây dựng một bàn đạp ở Hòa Đa. Một nhiệm vụ vừa mới, vừa rất khó là làm thuần khiết địa bàn còn địch ta lẫn lộn, cùng đồng đội tiếp xúc với những người dân lương thiện, những người có nhiều thiện cảm với cách mạng, gầy dựng, thổi lên ngọn lửa niềm tin trong nhân dân...

Những ngày ở Trung Lương, Sáu Hưng xây dựng cơ sở ở vùng Hóa Sơn - vùng sông nước nhiều hơn đất liền, dân Hóa Sơn là dân vạn chài, đêm ngày bồng bềnh trên sông Cổ Cò chảy ra sông Hàn - đoạn sông từ phía Nam cầu De Lattre chạy vào hướng núi Non Nước. Nhớ những đêm lội qua sông, qua cánh đồng lầy, lên bờ có đình làng Hóa Sơn, những căn nhà nhỏ giấu mình trong rừng dương, vài ngôi nhà nhỏ trên nhấp nhô cát, những đồi cát nối với vùng dân cư thưa trên đất cát Mà Đa - Mỹ Thị, nối tiếp những hói lạch, đồng ruộng, lũy tre, bãi cỏ um tùm của Khuê Đông - Hòa Quý, Trung Lương... Sáu Hưng chỉ huy, tổ chức chỉ đạo công tác xây dựng chi bộ, xậy dựng các tổ chức quần chúng, chứng kiến những cuộc đấu tranh của người Đà Nẵng, tham gia chỉ huy và có mặt hầu hết các sự kiện lớn diễn ra trên đất Đà Nẵng từ cuộc đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Genève, cuộc đấu tranh của Thanh niên - Sinh viên - Học sinh và Công nhân trong ''Chín ngày làm chủ'', ''76 ngày'', chiến dịch Mậu Thân - 1968, và chiến dịch Hồ Chí Minh mùa xuân lịch sử 1975.

Cả cuộc đời hiến dâng cách mạng, qua mấy thời kỳ, trên đất Quảng Nam và Đà Nẵng, ông luôn nghĩ và nhớ mỗi khi nhắc đến những ngày gian nan, nhớ những gia đình cơ sở đã nuôi giấu che chở cho ông sống sót để hoàn thành nhiệm vụ. Sáu Hưng gọi họ là những người dân anh hùng, những gia đình anh hùng, đã góp phần to lớn làm nên một Đà Nẵng, một Quảng Nam anh hùng. Khi bước qua tuổi 90, ông luôn nhắc con, cháu, những người thân cần ghi nhớ những con người của Hôm qua ấy, không được quên, mãi mãi biết ơn, khi nào ông đi xa thì cho ông gởi lời chào vĩnh biệt. Nay thì ông đã đi xa, những dòng này tôi viết như lời chào vĩnh biệt một người Cộng sản trung kiên.

Hồ Duy Lệ