SGTT.VN - Dự thảo chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011 – 2020 đang được lấy ý kiến đóng góp tiếp tục đặt mục tiêu hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Một nhóm các chuyên gia nghiên cứu độc lập vừa hoàn thành báo cáo “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường Việt Nam theo yêu cầu của nghị quyết 48/NQ-TW" như một nỗ lực tìm kiếm giải pháp nhằm hiện thực hóa mục tiêu.

Sài Gòn Tiếp Thị Online lược thuật một số nội dung của báo cáo, như lời dẫn cho một diễn đàn trao đổi rộng rãi về chủ đề này, và lần lượt giới thiệu những đánh giá và gợi ý chính sách cụ thể của nhóm nghiên cứu trong báo cáo này về vấn đề sở hữu đất đai, tài nguyên, khoáng sản; doanh nghiệp nhà nước; vấn đề quyền tự do kinh doanh và kiểm soát độc quyền; vấn đề xây dựng pháp luật kinh tế công. Việc xây nhà chung cư để bán có lợi cho công ty kinh doanh bất động sản, song nhiều quy định thiệt thòi cho người mua căn hộ cũng là một bất cập của quá trình ban hành chính sách và pháp luật. Ảnh minh họa. Ảnh: Lê Quang Nhật Pháp luật dân sự, kinh tế đã tạo nền móng cho nền kinh tế thị trường phát triển ở Việt Nam, xu thế ấy đã trở thành không thể đảo ngược được. Song, nhiều thách thức mới đã xuất hiện. Và vì vậy, trọng tâm trong năm năm tới nên là sắp xếp lại quản trị quốc gia. Theo báo cáo, thách thức lớn nhất của quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường có định hướng là sự lúng túng về tư tưởng hoạch định chính sách. Khi chưa rõ về định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), các nguy cơ lạm dụng sự không rõ ràng này để tư nhân hóa các nguồn quyền lực và tài nguyên quốc gia là rất cao. Khi chưa rõ về chức năng điều tiết, can thiệp của Nhà nước đôi khi trở nên khó dự báo, làm biến dạng đáng kể môi trường kinh doanh. Thách thức lớn thứ hai là chưa có công cụ kiểm soát các lợi ích nhóm bao gồm giới kinh doanh và giới quan chức, các bộ ngành giữ quyền lực nhà nước. Rất nhiều công văn và chỉ đạo của các bộ ngành có nguy cơ bị thao túng bởi các lợi ích nhóm này. Kinh tế phát triển kéo theo những đòi hỏi mới về phân chia phúc lợi và công bằng xã hội, trách nhiệm bảo vệ môi trường sống cũng như giữ gìn các nguồn tài nguyên cho những thế hệ mai sau. Gia nhập tổ chức Thương mại thế giới tạo thêm một sức ép cải cách, bởi lẽ cũng như toàn bộ nền kinh tế, các thể chế này buộc phải vận hành dưới môi trường cạnh tranh rộng lớn hơn, ngày càng mang tính toàn cầu. Trong khi đó, theo các tác giả, cả trên phương diện ban hành chính sách, quản lý hay xây dựng, thực thi pháp luật, ta đều còn đó những giằng co. Điểm giằng co lớn nhất là cách hiểu không rõ ràng về định hướng XHCN đã tạo cơ hội cho một lực lượng đáng kể trong Chính phủ và các bộ thực hiện các chính sách can thiệp làm biến dạng thị trường, cạnh tranh bình đẳng khó xuất hiện, tạo cơ hội cho quá trình tư nhân hóa ngầm các nguồn tài nguyên quốc gia diễn ra trên diện rộng. Chính phủ, các bộ và ủy ban nhân dân các tỉnh trong nhiều lĩnh vực vẫn duy trì quản lý theo lối cũ, vẫn can thiệp mạnh mẽ vào môi trường kinh doanh thông qua các doanh nghiệp nhà nước và mệnh lệnh hành chính (ví dụ đối với xuất khẩu gạo, phân phối điện…), chưa chuyển dần quyền lực điều tiết cho cạnh tranh, vai trò của luật Cạnh tranh và thiết chế cạnh tranh còn rất yếu. Trong nhiều lĩnh vực đáng ra các cơ quan này phải can thiệp và điều tiết mạnh hơn (ví dụ bảo vệ môi trường, bảo vệ an toàn thực phẩm, định chuẩn), song quản lý nhà nước bị buông lỏng hoặc rất kém hiệu quả. Khuyết tật của thị trường tạo ra bất bình đẳng trong xã hội, phúc lợi được phân bổ không công bằng, khoảng cách giàu nghèo giãn ra nhanh chóng. Trong xây dựng pháp luật, sự giằng co và lẫn lộn giữa quan niệm chính trị, ý thức hệ và nguyên tắc pháp lý đã dẫn tới những đạo luật có chính sách pháp luật không rõ ràng, tự mâu thuẫn và hạn chế hiệu lực lẫn nhau (ví dụ trong quy định về sở hữu toàn dân, doanh nghiệp nhà nước, vai trò của Nhà nước đối với nền kinh tế, thiết kế mô hình ngân hàng trung ương, xây dựng chính sách cạnh tranh và phá sản). Sự giằng co ấy làm cho thiết kế pháp lý cũng không rõ ràng, chưa bảo vệ tốt quyền tự do kinh doanh của người dân, chưa giới hạn và giám sát có hiệu quả quyền lực của Chính phủ, các bộ và ủy ban nhân dân các tỉnh. Các cơ quan này, thay vì thực hiện cho tốt chức năng điều tiết, lại nhảy vào kinh doanh, đôi khi làm thay việc của doanh nghiệp (ví dụ bảo lãnh để doanh nghiệp vay vốn quốc tế), những hoạt động này không thúc đẩy cạnh tranh bình đẳng. Một chế độ tôn trọng luật pháp có pháp luật dân sự, kinh tế rõ ràng, bảo đảm tự do sở hữu, tự do kinh doanh, giới hạn sự can thiệp của nhà nước vào những chính sách có thể tiên liệu được là một nền tảng quan trọng cho kinh tế thị trường. Một chế độ tôn trọng luật pháp có pháp luật dân sự, kinh tế rõ ràng, bảo đảm tự do sở hữu, tự do kinh doanh, giới hạn sự can thiệp của nhà nước vào những chính sách có thể tiên liệu được là một nền tảng quan trọng cho kinh tế thị trường. Tòa án thiếu độc lập và thiếu chuyên nghiệp làm cho quá trình giải thích pháp luật, giám sát quy chế hành chính của Chính phủ, các bộ và ủy ban nhân dân các tỉnh trở nên thiếu hiệu quả. Quốc hội, hội đồng nhân dân bán chuyên nghiệp và thiếu bộ máy trợ giúp thông tin làm cho quá trình giám sát sử dụng sở hữu quốc gia, nhất là giám sát sử dụng tài chính công trở nên khó khăn. Hệ quả là tính tuân thủ pháp luật của cơ quan nhà nước, của doanh nghiệp và người dân chưa cao. Thực thi pháp luật trở nên tốn kém và khó tin cậy. Ảnh hưởng của các nhóm lợi ích đã tăng đáng kể trong quá trình ban hành chính sách và pháp luật. Lợi ích của các tập đoàn kinh tế, của các cơ quan hành chính và đội ngũ công chức được bảo vệ còn các quyền của doanh nghiệp tư nhân và người dân, cộng đồng, người tiêu dùng, người lao động tuy đã được ghi nhận nhưng thiếu thiết chế thực thi. Ví dụ việc thu hồi đất nông nghiệp cho các dự án mang tính thương mại đã diễn ra dễ dàng, bất lợi được dồn cho nông dân. Cũng như vậy việc xây nhà chung cư để bán có lợi cho công ty kinh doanh bất động sản, song nhiều quy định thiệt thòi cho người mua căn hộ. Những bất cân xứng thông tin này chưa được Nhà nước can thiệp để điều tiết một cách thỏa đáng. Nhiều dấu hiệu cho thấy pháp luật dân sự, kinh tế đã nghiêng về bảo vệ quyền lợi cho người kinh doanh, mà chưa thực sự chú trọng đến lợi ích của cộng đồng và của những nhóm người yếu thế. Nhóm tác giả cho rằng trong thời gian năm năm tới không nên đẩy mạnh chỉnh sửa các văn bản pháp luật đã ban hành một cách chắp vá và thiếu tầm nhìn dài hạn. Những giằng co nói trên sẽ tiếp tục làm khó khăn cho các thiết kế pháp lý mang tính chuyên nghiệp về sở hữu, tự do cạnh tranh và phát triển các hình thức thị trường. Nếu được thiết kế thiếu chuyên nghiệp, khi triển khai trên thực tế, pháp luật tạo ra kẽ hở cho tùy tiện, bất bình đẳng. Nhấn mạnh tới thực hiện pháp luật dân sự, kinh tế, trọng tâm trong năm năm tới nên là sắp xếp lại quản trị quốc gia. Theo đó, sở hữu toàn dân vốn là một quan niệm chính trị, khi triển khai vào các khái niệm pháp lý, không giúp xác định ai có chủ quyền thực sự phải được chuyển thành sở hữu quốc gia và sở hữu của chính quyền địa phương. Sở hữu quốc gia là đối tượng bất di, bất dịch, không thể mua, bán, chuyển nhượng và được bảo hộ đặc biệt. Sở hữu của chính quyền, ngược lại, có tính linh hoạt. Chính quyền có thể mua, bán, chuyển đổi, chuyển nhượng các đối tượng thuộc sở hữu của mình trên cơ sở bộ luật Dân sự. Cần xác lập công bằng cho nông dân, sở hữu của họ đối với đất nông nghiệp phải được đảm bảo. Thu hồi đất chỉ có thể tiến hành bằng mệnh lệnh hành chính vì các mục đích an ninh, quốc phòng hoặc xây dựng giao thông. Trong tất cả các dự án chuyển đổi đất mang tính thương mại khác (ví dụ chuyển thành đất ở, đất kinh doanh bất động sản, khu du lịch, khu công nghiệp, sân golf), chủ đầu tư phải thương lượng để mua lại đất của nông dân với giá thỏa thuận. Cơ quan quản lý nhà nước cần phải rút lui khỏi hoạt động kinh doanh. Các doanh nghiệp nhà nước cần được phân hóa thành hai nhóm, nhóm các công ty thương mại và nhóm các thiết chế công quản cung cấp dịch vụ công. Quyền chủ sở hữu đối với các doanh nghiệp này không nên dành cho các cơ quan trên mà nên trao cho các tổ chức quản lý công sản độc lập, có sự tham gia của cơ quan dân cử, giới kinh doanh. Các tập đoàn và tổng công ty nhà nước, sau khi chuyển đổi thành các công ty thương mại, buộc phải từ bỏ độc quyền và chịu cạnh tranh, chịu sự giám sát khi bị niêm yết. Chỉ có kỷ luật khốc liệt của thị trường mới có thể giúp các tập đoàn sở hữu quốc gia hoạt động có hiệu quả. Đồng thời với sức ép của toàn xã hội đối với việc này, cần tăng cường giám sát chi tiêu công. Quốc hội và hội đồng nhân dân phải được tham gia sớm hơn, tích cực hơn, hiệu quả hơn vào quy trình ngân sách. Một cơ quan dân cử thực quyền phải chuyên nghiệp và nhận được sự ủy nhiệm trực tiếp của người dân thông qua bầu cử. Môi trường cạnh tranh bị biến dạng đáng kể bởi sự can thiệp mang tính hành chính. Muốn thực hiện pháp luật dân sự, kinh tế một cách bình đẳng và công bằng bởi vậy cần phải có những cuộc cải cách thể chế hướng tới tính độc lập và chuyên nghiệp của cơ quan dân cử, tòa án và các thiết chế giám sát xã hội khác. Rút lui khỏi lĩnh vực kinh doanh, cơ quan quản lý nhà nước mới có các năng lực cần thiết để thực thi các chính sách điều tiết, định chuẩn, bảo vệ các tài nguyên công cộng, môi trường sống và các lĩnh vực khác được gọi chung dưới tên gọi luật kinh tế công.