Sẽ không có gì đáng phải bàn nếu chính quyền địa phương tuân thủ đúng quy trình liên quan đến xử lý công trình vi phạm trên đất công.

Ngày 6/10/2016 vừa qua, UBND phường Trung Liệt (Đống Đa, Hà Nội) đã tổ chức cưỡng chế công trình “xây dựng trái phép trên đất công” tại địa chỉ nhà số 15, ngách 41/58, ngõ 41, phố Thái Hà. Tuy vậy, cuộc cưỡng chế đã không thành công vì vấp phải sự tranh cãi quyết liệt của chủ nhà.

Tranh cãi về đất công

Phần công trình mà UBND phường cưỡng chế bất thành là bốn cây cột trồng trên phần đất vốn là bờ mương trên phố Trung Liệt, nay đã được cải tạo, cống hóa.

Sang - toi tu mot cuoc cuong chet bat thanh - Anh 1

Chú thích: phần đất gia đình ông Thanh đang quản lí

Chủ công trình ở địa chỉ trên là ông Trần Văn Thanh và bà Bùi Thị Minh Pha. Gia đình ông Thanh cho rằng đây là đất của gia đình đã quản lý, sử dụng từ hàng chục năm nay. Việc gia đình trồng cột là hoàn toàn hợp pháp. Trong khi đó, chính quyền lại khẳng định: Phần đất gia đình ông Thanh trồng cột là đất công.

Ông Nguyễn Thao Hùng, Chủ tịch UBND phường Trung Liệt cho biết: Phần công trình mà UBND phường tổ chức cưỡng chế là đất công. Việc gia đình ông Thanh trồng cột là trái phép và cần cưỡng chế phá bỏ.

Căn cứ để chính quyền địa phương khẳng định đây là đất công là tấm bản đồ địa chính vẽ từ tháng 9/1994 đang được lưu giữ tại trụ sở UBND phường. Ngoài ra, cán bộ địa chính phường còn cung cấp cho phóng viên Biên bản vi phạm số 1650 ngày 3/6/1999 có nội dung: gia đình ông Thanh tự ý xây trụ cổng và trồng cây trên hành lang bảo vệ mương thoát nước; và bản sao Biên bản xác định ranh giới đất lập ngày 28/2/2001, trong đó có đoạn thể hiện ông Thanh từng xin phép UBND phường “để nhờ vật liệu, xi măng” khi xây dựng.

Quan điểm của chính quyền là: Phần đất gia đình ông Thanh trồng 4 cây cột chính là đất công, trước đây gia đình “mượn” UBND phường, sử dụng vào việc để vật liệu xây dựng. Ông Nguyễn Thao Hùng cho biết: Vì là đất công, nên khi cưỡng chế không cần quyết định cưỡng chế.

Trong khi đó, gia đình ông Thanh, bà Pha cho biết: Năm 1999, Sở Giao thông Công chính có biên bản xử phạt vi phạm hành chính và yêu cầu gia đình lùi từ phía bờ mương vào 3 mét để làm hành lang bảo vệ mương thoát nước. Năm 2000, Công ty Môi trường đô thị lập vỉa bê tông ngăn cách phần đất gia đình đang sử dụng với phần hành lang bảo vệ mương thoát nước.

Sang - toi tu mot cuoc cuong chet bat thanh - Anh 2

Con mương sau khi cải tạo xuất hiện nhiều công trình mới.

Năm 2008, khi thực hiện dự án cải tạo mương thoát nước, việc cắm mốc giới thực hiện dự án, đã được hoàn thành, phần bên trong mốc đương nhiên thuộc về gia đình. Mốc giới và vỉa bê tông đến nay vẫn còn nguyên.

Để xác thực điều này, gia đình ông Thanh đã cung cấp cho phóng viên bản sao Hồ sơ kĩ thuật thửa đất lập năm 2013, có xác định ranh giới đất, mốc giới và có xác nhận của Chủ tịch UBND phường Trung Liệt khi ấy là ông Nguyễn Chí Tâm.

Trong tư liệu UBND phường Trung Liệt cung cấp cho phóng viên không có văn bản này.

Nếu cưỡng chế, cần làm đúng luật

Gia đình ông Thanh cũng cho biết: Khi UBND phường tổ chức cưỡng chế việc gia đình ông cắm 4 cây cột, hoàn toàn không có biên bản xử phạt hay quyết định cưỡng chế.

Đề cập đến vấn đề này, Luật sư Nguyễn Hồng Bách cho biết: Nếu hành vi xây dựng công trình trên đất công là xác thực, thì đây là hành vi “xây dựng công trình trên đất không được phép xây dựng” được quy định tại Điểm a Khoản 7 Điều 13 Nghị định 121/2013/NĐ-CP ngày 10/10/2013 của Chính phủ. Tuy nhiên, việc xử lý công trình xây dựng vi phạm (nếu có) phải tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật, cụ thể như sau:

Theo quy định tại Điểm đ Khoản 3 Điều 5 và Khoản 10 Điều 13 Nghị định 121/2013/NĐ-CP, thì việc xử lý, buộc phá dỡ công trình xây dựng vi phạm sẽ được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 180/2007/NĐ-CP ngày 07/12/2007 của Chính phủ. Tại Điều 12 Nghị định số 180/2007/NĐ-CP có quy định việc xử lý công trình xây dựng vi phạm sẽ được thực hiện như sau:

“a) Lập biên bản ngừng thi công xây dựng, yêu cầu chủ đầu tư tự phá dỡ công trình xây dựng vi phạm trật tự xây dựng đô thị;

b) Trường hợp chủ đầu tư không ngừng thi công xây dựng phải bị đình chỉ thi công xây dựng, buộc phá dỡ công trình xây dựng vi phạm trật tự xây dựng đô thị; đồng thời, áp dụng các biện pháp ngừng cung cấp các dịch vụ điện, nước và các dịch vụ khác liên quan đến xây dựng công trình; cấm các phương tiện vận tải chuyên chở vật tư, vật liệu, công nhân vào thi công xây dựng;

c) Cưỡng chế phá dỡ nếu chủ đầu tư không thực hiện quyết định đình chỉ thi công xây dựng. Chủ đầu tư chịu trách nhiệm về toàn bộ chi phí lập phương án phá dỡ (nếu có) và chi phí tổ chức cưỡng chế phá dỡ.”

Việc lập biên bản ngừng thi công xây dựng, đình chỉ thi công xây dựng và cưỡng chế phá dỡ công trình vi phạm phải tuân theo quy định tại từ Điều 23 đến Điều 25 Nghị định số 180/2007/NĐ-CP. Theo đó, nếu chủ đầu tư không tự nguyện tháo dỡ công trình xây dựng thì UBND cấp xã phải ban hành quyết định cưỡng chế phá dỡ theo quy định tại Điều 24 Nghị định số 180/2007/NĐ-CP.

Trong trường hợp, người có thẩm quyền có quyết định xử phạt vi phạm hành chính, thì thủ tục, trình tự xử lý vi phạm còn phải tuân thủ các quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (Luật XLVPHC) và các văn bản hướng dẫn thi hành, cụ thể như sau:

Khi phát hiện ra hành vi vi phạm, thì các cơ quan, người có thẩm quyền phải lập Biên bản vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 57 và Điều 58 Luật XLVPHC và Điều 6 Nghị định 81/2013/NĐ-CP của Chính Phủ.

Trên cơ sở biên bản vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử phạt phải xem xét ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo các quy định tại các Điều 67, Điều 68 Luật XLVPHC. Trong quyết định này phải nêu rõ biện pháp khắc phục hậu quả (buộc tháo dỡ công trình vi phạm).

Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, người có thẩm quyền đã ra quyết định xử phạt phải gửi cho cá nhân, tổ chức bị xử phạt, cơ quan thu tiền phạt và cơ quan liên quan khác (nếu có) để thi hành (Điều 70 Luật XLVPHC)

Theo quy định tại Điều 86 Luật XLVPHC, trong trường hợp, cá nhân, tổ chức vi phạm không tự nguyện thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính thì sẽ bị cưỡng chế thi hành. “ Việc cưỡng chế chỉ được thực hiện khi có quyết định cưỡng chế bằng văn bản của người có thẩm quyền” (Khoản 1 Điều 3 Nghị định 166/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ)

Người có thẩm quyền (quy định tại Điều 87 Luật XLVPHC) phải ra quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính và gửi quyết định cưỡng chế cho các cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 88 Luật XLVPHC và Điều 5 Nghị định 166/2013/NĐ-CP.

Việc tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế, buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả (tháo dỡ công trình vi phạm) phải được thực hiện theo đúng quy định tại Điều 34 và Điều 35 Nghị định 166/2013/NĐ-CP và Điều 24, Điều 25 Nghị định số 180/2007/NĐ-CP.

Do đó, nếu UBND phường tiến hành việc cưỡng chế tháo dỡ công trình xây dựng vi phạm mà không có quyết định cưỡng chế là không đúng pháp luật, không bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị cưỡng chế.

Hoàng Lan