Bài 2: Tổ chức lại ngành hàng lúa gạo - Những năm qua, ngành sản xuất lúa gạo đã chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa, tuy nhiên, tỷ lệ gạo chất lượng cao còn ít, khó cạnh tranh trên thị trường, nguyên nhân do việc sử dụng giống chất lượng cao không nhiều, chi phí lại cao. Vì vậy, để ngành lúa gạo phát triển bền vững, cần mở rộng quy mô, tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị.

Bài 1: Vừa thừa, vừa thiếu

Liên kết sản xuất lúa giống

Để bảo đảm cao nhất chất lượng hạt giống, cung ứng cho các địa phương, giảm lúa giống nhập khẩu, thời gian qua, một số đơn vị sản xuất giống lúa đã mạnh dạn mua bản quyền, hoặc đầu tư trực tiếp cho nghiên cứu, chọn tạo giống mới, sau đó ký hợp đồng sản xuất, tiêu thụ với nông dân. Bước đi này được xem là đúng hướng để tồn tại và vươn lên trong sản xuất giống hiện nay. Có thể kể đến một số mô hình thực hiện liên kết có hiệu quả, như: Tổng công ty Giống cây trồng Thái Bình, Công ty TNHH Cường Tân (tỉnh Nam Định).

Từ năm 2008, Tổng công ty Giống cây trồng Thái Bình đã ký hợp đồng hợp tác sản xuất lúa giống với HTX Dịch vụ nông nghiệp Bình Định (huyện Kiến Xương, Thái Bình). Giám đốc HTX Dịch vụ nông nghiệp Bình Định Trần Thanh Sơn cho biết, ban đầu bà con nông dân trong HTX ký hợp đồng sản xuất lúa giống với diện tích khoảng 15 ha, đến nay, trên diện tích đất sản xuất nông nghiệp của xã là 549 ha đã có gần 200 ha quy hoạch thành sáu vùng sản xuất theo mô hình cánh đồng mẫu lớn, để sản xuất lúa giống (chủ yếu là giống BC 15 và TBR 225).

Bà Trần Thị Thắm, ở thôn Hòa Bình, xã Bình Định, huyện Kiến Xương chia sẻ: Gia đình có một mẫu thì một nửa cấy lúa giống cho Tổng công ty, chủ yếu trồng giống BC15 cho năng suất từ 2,5 đến 2,7 tạ/sào. Tổng công ty cung cấp giống, hướng dẫn kỹ thuật và bao tiêu sản phẩm cho bà con với mức giá ổn định, cao hơn giá bên ngoài khoảng 1.400 đồng...

Chúng tôi đến Công ty TNHH Cường Tân, tại xã Trực Hùng (huyện Trực Ninh, Nam Định), nơi có thế mạnh trong sản xuất lúa lai gắn với “phi vụ đầu tư tiền tỷ”, như TH 33 có giá 10 tỷ đồng (năm 2008) từ Học viện Nông nghiệp Việt Nam, có khả năng chịu tác động ngoại cảnh tốt (có thể trồng trên đất cát ven biển, hoặc đất đồi) và sau này là CT 16, gắn với mô hình: Công ty Cường Tân thuê đất, cung cấp giống, phân bón, người dân gieo cấy, chăm sóc, sản phẩm sau thu hoạch sẽ được công ty thu mua.

Ông Phạm Văn Loạn, ở xóm 3, xã Trực Hùng, người đã có bảy năm trồng lúa cho Công ty Cường Tân cho biết: Sản xuất lúa lai theo mô hình của Cường Tân cho thu nhập ổn định, năng suất cao hơn so với gieo cấy thông thường. Ban đầu gia đình có năm sào ruộng, nay đã nhận thêm bảy mẫu, năm cao nhất cho thu nhập hơn 100 triệu đồng. Gia đình ông Lã Văn Thiên có 10 năm sản xuất lúa lai với diện tích 15 mẫu. Do diện tích quá lớn, gia đình ông Thiên phải thuê thêm năm nhân công (mỗi tháng trả từ 3 đến 5 triệu đồng/nhân công), trừ chi phí, mỗi năm thu về khoảng 200 triệu đồng.

Trao đổi với chúng tôi, Giám đốc Công ty TNHH Cường Tân Đoàn Văn Sáu cho biết: Khi bắt đầu sản xuất lúa giống, người dân không mặn mà cho thuê đất. Nhờ sự kiên trì của công ty, sự hợp tác của chính quyền xã, đến nay Cường Tân đã có hơn 400 ha đất phục vụ việc trồng lúa, với khoảng 60 nhóm sản xuất. Mỗi năm Cường Tân sản xuất hai vụ, cung cấp ra thị trường khoảng 2.000 tấn lúa giống, góp phần để Nam Định chủ động được 30% lượng giống lúa lai. Ngoài phục vụ nhu cầu giống trong tỉnh, lúa lai của Cường Tân đã có mặt tại 37 địa phương khác.

San xuat lua giong dap ung nhu cau thi truong (Tiep theo va het) (*) - Anh 1

Đo độ ẩm của hạt giống tại Tổng công ty giống cây trồng Thái Bình.

Đổi mới hình thức chuyển giao công nghệ

Theo Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Nam Định Đỗ Hải Điền, mỗi vụ, tỉnh xác định hai đến ba giống lúa chủ lực, mỗi huyện, xã cũng xác định một đến hai giống chủ lực. Ngoài ra, Sở còn phối hợp các doanh nghiệp tổ chức những cuộc hội thảo đánh giá về ưu điểm, khuyết điểm của các giống lúa hiện có trên địa bàn. Đồng thời, tổ chức các đoàn thanh tra xuống cơ sở kiểm tra việc cung cấp giống lúa bảo đảm số lượng và chất lượng.

Tuy nhiên, theo quyền Giám đốc Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam (VAAS) Trịnh Khắc Quang, việc chuyển giao giống lúa từ cơ sở nghiên cứu đến sản xuất được đơn vị nghiên cứu thực hiện trực tiếp với các địa phương. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ hỗ trợ công việc này thông qua các dự án khuyến nông, dự án giống hoặc dự án sản xuất thử nghiệm giống lúa mới, Bộ không chỉ định cụ thể giống nào chuyển giao cho địa phương nào, mà chỉ đạo chung về yêu cầu đặc tính của giống (chất lượng, chịu mặn, chịu hạn…) cho từng vùng sinh thái.

Việc chuyển giao giống lúa từ cơ sở nghiên cứu đến sản xuất đều tuân thủ theo một quy trình nghiêm ngặt. Giống mới được lai tạo sẽ được khảo nghiệm, đánh giá tính thích nghi và tính ổn định ở các vùng sinh thái cụ thể. Những giống phù hợp sẽ được giới thiệu đến địa phương thông qua các hội thảo. Các giống chỉ được chuyển giao khi đã được công nhận giống phù hợp vùng sinh thái. Hơn nữa, việc doanh nghiệp được quyền nghiên cứu sản xuất giống mới, ngoài mặt tích cực có thể đưa ra giống lúa tốt, hợp thổ nhưỡng, cho năng suất cao, cũng không tránh khỏi tình trạng độc quyền sản xuất, kinh doanh, nâng giá cao và ngành nông nghiệp thì không thể can thiệp việc này.

Vì vậy, để hạn chế độc quyền, tự nâng giá, Nhà nước cần hỗ trợ doanh nghiệp tạo nguồn lực để đầu tư khoa học kỹ thuật theo hướng trọng điểm, không dàn trải, nhằm phục vụ tốt hơn trong nghiên cứu sản xuất giống lúa mới, dựa trên cơ sở xây dựng cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm khi cung cấp sản phẩm ra thị trường.

Cục Trồng trọt chỉ cấp phép nhập khẩu cho các giống cây trồng chưa có trong danh mục nhập để nghiên cứu, khảo nghiệm hoặc sản xuất thử, và số giống này không được phép kinh doanh trên thị trường; khi khảo nghiệm, trình diễn và sản xuất thử phải có hợp đồng, chịu trách nhiệm bảo hiểm năng suất với người sản xuất thông qua tổ chức đại diện của họ. Doanh nghiệp khi khảo nghiệm, sản xuất thử phải thông báo cho ngành nông nghiệp các địa phương theo dõi, giám sát.

* Xem Báo Nhân Dân từ số ra ngày 1-12-2016.

Thực hiện tái cơ cấu ngành lúa gạo đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, về cơ cấu giống và tỷ lệ sử dụng giống xác nhận: đã tăng tỷ lệ sử dụng giống lúa chất lượng cao ở khu vực phía bắc phục vụ tiêu dùng trong nước và ở đồng bằng sông Cửu Long để xuất khẩu. Đến nay, tỷ lệ sử dụng giống xác nhận của các tỉnh phía bắc đạt khoảng 80%, khu vực miền trung hơn 50% và vùng đồng bằng sông Cửu Long là hơn 40%.

(Nguồn: Cục Trồng trọt)