Thời còn đi học, ai ai trong chúng ta đều phải kinh qua món tập làm văn. Có thể với một vài cá nhân (hay cá biệt) học sinh, việc tầm chương trích cú thường để lại cảm giác “trên cả an toàn”, đặc biệt thể hiện rõ ở các bài văn đoạt giải cấp quốc gia, bởi lẽ nó dường như dễ dàng nhuốm một màu sắc uyên bác rất rõ nơi người viết. Nhưng đó là với những câu trích dẫn thuộc hàng kinh điển, hay chí ít đó vẫn là những câu nói mang giá trị nhất định cho cả người viết lẫn người đọc, trong khi những độc giả hoài nghi hơn, ra vẻ am tường và khảng khái hơn sẵn sàng nhúng tay vào công cuộc “vạch lá tìm sâu”…

Năm 2007. Vẫn là cô nàng “gái hư” Rihanna bị tố liên quan đến một vụ kiện bản quyền nhạc, lần này là cho bản hit Don’t Stop The Music đã thống trị hầu hết mọi sàn nhảy từ lớn đến bé, từ Mỹ sang Việt Nam. Đoạn ê a (vẫn là ê a) tiếng châu Phi “ma-ma-ko ma-ma-sa ma-ka-ma-ko-ssa” trong chorus của bài hát lấy quá rõ ràng từ đoạn nhạc trong Wanna Be Starting Something (1983) của Michael Jackson, và tất nhiên Rihanna, theo thông lệ, đã để credit cho Michael Jackson rất rõ ràng trên bìa album của mình. Tuy nhiên chuyện vui chỉ thật sự bắt đầu khi cả Michael Jackson và Rihanna đều bị Manu Dibango, một nghệ sỹ funk-jazz người Cameroon, kiện ra tòa án Paris vì cho rằng họ đã ăn cắp từ bài hit nổi tiếng nhất của mình mang tên Soul Makossa sáng tác từ tận năm 1972. Đến cả khi ông vua nhạc pop Michael Jackson qua đời, vụ kiện này vẫn chưa ngã ngũ.

Nói vậy để thấy, kể từ khi sample bắt đầu được các nghệ sỹ chú ý khai thác rộng rãi đến đại trà từ hai thập kỷ trở lại đây, sampling và bản quyền âm nhạc vẫn là chuyện không của “riêng ai” tại khắp vùng miền trên thế giới.

1 - Sample: đơn vị cấu thành âm nhạc.

Trước khi đi sâu hơn đôi chút về sample, hãy lạm bàn sáng tạo, hay đúng hơn là cách chúng ta ghi nhận sự sáng tạo của người “nghệ sĩ”, rồi mới đến sự can thiệp của tiền. Mỗi tác phẩm âm nhạc, có hay không có lời và bất kể thời lượng từ siêu dài cho đến siêu ngắn, miễn do một tác giả sáng tác – theo cả nghĩa rộng lẫn hẹp – hoàn toàn có thể xem như một tác phẩm độc lập một khi đã được trình ra trước công chúng theo mọi hình thức khả dĩ – trên radio, trong đoạn bump của một chương trình truyền hình, và thậm chí kể cả một soundeffect nếu người nghệ sĩ muốn như thế. Trên thế giới, hệ thống Q sheet đã và vẫn đang được áp dụng rộng rãi để ghi lại việc sử dụng (và truy thu tác quyền) các tác phẩm như thế này, những tác phẩm mà phần rất lớn công chúng trẻ quan tâm đến Lady Gaga hay Kate Perry sẽ chẳng bao giờ care đến trong từ điển âm nhạc của mình. Bởi lẽ, trong suy nghĩ của rất nhiều người, tác phẩm âm nhạc buộc phải gắn liền với những cái tên họ đã biết.

Hiểu theo cách chân phương nhất, sample là những đoạn nhạc “mẫu” được lấy từ tác phẩm gốc ban đầu và sử dụng vào mục đích hoàn toàn mới. Trong âm nhạc, sample là những đoạn âm thanh từ nhiều nguồn gốc khác nhau được các tác giả sử dụng lại để tạo nên âm nhạc của họ. Nếu căn cứ theo nguồn gốc ta lại phân thành 2 loại khác nhau: những sample thiết kế cho chính mục đích làm sample và loại thứ 2 là những đoạn âm thanh “hay ho” rút trích từ chính những tác phẩm âm nhạc hoàn chỉnh. Với loại thứ nhất, sample là những âm thanh mà có ý nghĩa mà bất kỳ người nào có kiến thức nhạc lý cơ bản có thể hình dung ra. Đó có thể là từng nốt nhạc từ cây organ điện tử ưa dùng, hay sự kết hợp nhiều nhạc cụ khác nhau để tạo thành một tổ hợp âm thanh tương đối hoàn chỉnh để sử dụng làm nhạc nền lặp đi lặp lại xuyên suốt một bài hát mà giới chơi nhạc quen gọi là beat. Với định nghĩa như thế, chắc chắn 100% người chơi nhạc đều sử dụng sample mà không hề ý thức rõ ràng về việc này.

Trong thời đại Internet hiện nay, ai cũng có thể dễ dàng tìm thấy vô số thư viện beat miễn phí hợp pháp lẫn không hợp pháp có sẵn trên mạng. Những thư viện này không hề xa lạ với những người làm nhạc amateur (không-chuyên) và underground (không-ai-nghe), nhưng vấn đề tác quyền mập mờ cộng với việc khó có thể tìm được đoạn beat thật sự ưng ý khiến những nghệ sỹ có ý định đầu tư cho sự nghiệp nghiêm túc hơn sẽ tìm đến những beatmaker, người tạo beat chuyên nghiệp. Đặc biệt trong hip hop, phụ thuộc nặng nề vào beat của nhạc điện tử và nhạc hiphop khiến hầu hết những DJ và (hiphop) producer đều kiêm cả nghề tay trái là beatmaker, và không ít người trong số họ tạo dựng được tên tuổi vững chắc và phát hành album riêng của mình với sự tham gia của những ngôi sao nổi tiếng. Trường hợp của DJ người Pháp David Guetta, đạo diễn cho thành công của những bài hit I Gotta Feeling, Club Can’t Handle Me, hay mới đây là Where Them Girls At, là minh chứng gần nhất cho câu nói “DJs are the new rockstars” (DJ là những siêu sao nhạc rock thời nay). Bắt đầu sự nghiệp bằng cách chơi lại những bản nhạc nổi tiếng tại một club nhỏ ở Paris, David Guetta dần tạo được tên tuổi qua những sáng tạo của riêng mình. Nothing But The Beat, album mới nhất của DJ Guetta đã từng có tới 6 ca khúc nằm trong Billboard Top 100 cùng lúc, và trong album anh đã mời những ngôi sao hiphop đình đám nhất hiện tại như Nicki Minaj, Jessie J, Usher, Akon...

Ở Việt Nam, ban đầu việc tạo beat do những nhạc sỹ đa-năng kỳ cựu như Võ Thiện Thanh, Huỳnh Nhật Tân, Hồ Hoài Anh.. đảm nhiệm, nhưng theo sự phát triển vũ bão của nền công nghiệp âm nhạc, lớp nhạc sĩ trẻ, mới và tài năng xuất hiện với kỹ năng tạo beat ở mức cao như Dương Khắc Linh, Addy Trần, hay mới đây hơn là những thành viên của nhóm Feel Of Life Records.