Ông sửa lại miếng ván ngồi bằng gỗ, rồi đưa tay tâng chỉnh cái amply bé con cho âm thanh vừa ý mình hơn. “Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng dở dang/ Yêu ai cũng không thành/ Nên giận đời quên...”. Bài khác nữa đã vang vang...

“Anh dìu em về/ Đường về nhà em.../ Mưa nhạt mưa nhòa/ Mưa đổ...”. Lời hát lại tiếp tục rải ra, chen trong sự ồn ào, va vào lưng - vai - mông - đùi - môi - mắt người, lèn qua váy ngắn váy dài và cả trùng trùng bước chân chật nêm của người đi chợ. Năm mét cách đó là một cái ca nhựa to được đặt trên một bệ gỗ nhỏ để mọi người tiện tay dừng lại bỏ tiền vào. Người kia ngồi bệt dưới đất hát, đơn chiếc, cứ hát, nghêu ngao, không để ý đến cái ca nhựa lẫn người qua...

Rong ca xuyen mua mang - Anh 1

Ông sửa lại miếng ván ngồi bằng gỗ, rồi đưa tay tâng chỉnh cái amply bé con cho âm thanh vừa ý mình hơn. “Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng dở dang/ Yêu ai cũng không thành/ Nên giận đời quên...”. Bài khác nữa đã vang vang, dù bài vừa kết thúc cũng như bao nhiêu bài trước đó nữa và muôn năm qua không hề có tiếng vỗ tay nào.

Nhiệm vụ của ông là hát, như một số phận tự gánh vào. Nhạc sống hẳn hoi, người hát bằng xương bằng thịt, không bao giờ có playback, hay dùng kỹ thuật gian xảo để lừa người nghe. Vì vậy, mà ông bày tỏ nho nhỏ với tôi bài này hôm nay ca không bằng hôm qua; cái đờn hôm nay âm thanh kêu ngọt hơn mọi bữa...

Nắng chói chang đổ xuống khoảng đất trống ngoài chợ lồng, làm ông ngồi hát ở đó cô độc hơn trong nắng. Giữa chợ búa mà sao hình ảnh nó cô tịnh quá. Chiếc ca nhựa đựng tiền ở tít chỗ kia lẻ loi, cứ thế lặng lẽ, nhiều khi nó như không là một bộ phận của ông. Tôi đi lại đảo mắt nhìn qua. Toàn những tờ bạc lẻ năm trăm đồng, một ngàn, hai ngàn, đều nhàu.

Nhưng ông cho rằng mình không phải là ăn mày. Khi ai bảo ông là ăn mày, ông cho là họ xúc phạm âm nhạc và tâm hồn nghệ sĩ. Ông khuyên họ hãy công bằng, bình tâm, và quan sát rõ cuộc đời. Tôi đã đi theo ông như thế từ mười lăm năm qua, từ cái chợ Tùng Nghĩa này đến chợ Di Linh, Ka Đô, Đinh Văn, và các Chùa chiền ở Lâm Đồng vào những mùa Phật đản, Lễ, Tết.

Cứ mỗi khi có nhu cầu đắm mình trong nhạc Boléro là tôi tìm theo ông để nghe. Dòng nhạc này phải nghe từ miệng những ca sĩ giang hồ như ông mới thấy hết cái vĩ đại của nó, dân gian đến tận cùng, “nông nghiệp” đến rễ đến sình, buồn vô biên, thấu trời thấu đất.

Ông lặp đi lặp lại là mình không phải ăn mày. Mà thật thế, có ai thấy ông ngửa tay xin tiền thiên hạ bao giờ đâu. Ông cũng không trách móc ai đứng nghe mà không trả tiền. Cũng không đòi hỏi ai cho ông ly đá chanh, điếu thuốc, ổ bánh mì, lời khen. Khi hát, là ông đang bán phổi, đổi hơi, trút hồn. Kẻ chợ vui tai, hay đồng cảm với nhạc thì bỏ vào đôi đồng bạc. Thường lúc hát là ông cúi đầu vào chiếc đờn guitar điện. Có khi bất chợt ngất đầu lên, thấy ai đó đang bỏ tiền vô cái ca ở đàng kia và quay đầu nhìn lại ông thì ông cúi đầu biểu lộ cảm ơn họ.

Ông cứ hát như thế kể từ năm 1995 đến giờ. Hát tám tiếng mỗi ngày. Hát bài nọ nối bài kia, đến độ có người xót ruột khuyên nên dừng hát khi sân chợ vắng khách cũng cứ hát. Mỗi ngày hát một trăm đến một trăm năm chục bài. Boléro là tâm hồn đơn giản của ông, gu nhạc của ông, nó chở tự tình tha nhân dân dã, chúng sinh bình thường.

Rong ca xuyen mua mang - Anh 2

Nếu thành tâm với âm nhạc, tận hiến với âm nhạc, chuyên nghiệp với cầm ca thì ông là hiện thân đích thực, trọn vẹn chứ không phải các ca sĩ chờ tối về mới xuất hiện ở Sài Gòn, Hà Nội nơi các chương trình sân khấu son phấn và ca một bài rồi biến đi ngay sau đấy đâu. Nếu được mời, ông sẽ lên sân khấu hát như người khác, nhưng người khác thì sống vạn kiếp nữa cũng không đủ nội lực tự tin để ngồi xó chợ mà ca say nhẹ tênh như ông.

Họ kiếm sống bằng âm nhạc, và ông cũng thế. Giá trị con người là ngang nhau, và không không gian ca hát nào lớn hơn không gian ca hát nào, khi mà tiếng ca vang lên là để tìm đến nhân sinh, mang yêu thương về với đồng loại. Ông thề rằng, tiền là cái cần, nhưng “Được hát”, “Có người nghe mình ca”, là điều sướng nhất. Nếu không vậy, ông không yêu nghề và hát ròng rã năm tháng như thế được.

Ngày đã tàn, chợ dần thu dọn, ông cõng chiếc đờn trên lưng, bỏ mấy thứ đồ lặt vặt trên baga xe đạp để dắt về. Chiếc xe cà tàng chậm rãi lăn theo bước ông, tạm biệt các ngã chợ. Có hình ảnh nào nghệ sĩ hơn đây. Ai đó trong ngày chợ hôm nay mang theo về những giai điệu từ miệng ông khi ngả lưng trên giường đêm.

Ca sĩ của bá tánh

Trong căn nhà ông trọ, với giá mười lăm ngàn một ngày đêm. Ông trút cái ca nhựa ra để xếp tiền kiếm được. Sấp tiền chồng lên cao đo phải đến hơn gang tay. Ông chẻ lấy một sấp tiền lẻ trong đó và mang đi ngược ra đầu ngã ba để mua một vỉ thuốc có vị bạc hà.

Ông đã quay về và ngồi xuống sàn. Ông ấn ra một viên ở vỉ thuốc để ngậm. Ông tâm sự đây là “vũ khí” chống nghẽn cổ, long đờm, làm cho thanh giọng của mình. Rồi ông đưa tay lấy sấp tiền kia và đếm. Được tám mươi ba ngàn năm trăm đồng. Tiền năm trăm đồng, một, hai ngàn và nhiều nếp gấp như thế làm sao chồng lại không cao dày.

Ông bảo đời ông là thế. Chỗ nào có chợ, có vùng quê là ông cứ đi. Đến chợ nào là ông thuê nhà trọ ở gần cái chợ đó để ở. Như trước khi “đỗ” ở chợ Tùng Nghĩa này, ông hát ở chợ Thạnh Mỹ bên Đơn Dương. Và trước khi ở chợ Thạnh Mỹ, ông hát qua chợ Ka Đô, rồi chợ Di Linh, Bảo Lâm, Lâm Hà, ngã ba Hòa Ninh. Những năm trước đó nữa là các chợ ở Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Biên Hòa, Buôn Ma Thuột, Phan Thiết, Gia Nghĩa, Gia Lai.

Ông hát từ Phan Rang, Song Mỹ, Quảng Sơn, Sông Pha, rồi leo đèo lên Dran, Lạc Lâm của xứ Lâm Đồng trên cao nguyên. Có khi ông hát dọc theo các quốc lộ 1A, 20, 21, 14, 19... Dọc theo các con lộ ấy, chỗ nào có chợ là có ông. Nhưng có những khi nhớ những chợ đã qua, vì lâu ngày không trở lại, ông nhảy xe đò tìm về với nó để hát ít ngày rồi quay lại ngôi chợ xác định “hạ trại” lâu. Ngay ở Tùng Nghĩa này, cái chợ lớn nhất tỉnh Lâm Đồng, tiền ông gom được thường dính theo bùn đất cho thấy nông dân là thành phần chính yêu thích ông.

Ông bảo ở vùng quê, chợ xã, chợ thôn, chợ ngã ba, ngã bốn, xóm mới, xóm tạm ông hát phê hơn. Có đám cưới, họ còn mời kẻ xướng ca lếch thếch bần hàn là ông vô để hát mừng cho cô dâu chú rể và hai họ bài “Hồn lỡ sa vào đôi mắt em”, “Nhẫn cỏ cho em”. Chốn quê mùa, rõ là nơi họ quí giọng ca ông nhất. Họ kéo cả xóm ra nghe ông hát.

Họ mang trái cây ra cho ông ăn, họ mang nước ra cho ông uống. Họ tặng ông những ký cà phê bột tự xay, những trái chôm chôm, sầu riêng đầu mùa, cuối mùa. Họ nói nhau gom tiền lại trong một bao thư rồi mới bỏ vào cái ca nhựa kia. Và ở đó, cuối ngày ông đếm thấy được những tờ tiền năm ngàn, mười ngàn, hai chục ngàn.

Không ít lần, ông vào quán làng ăn trưa, lúc đứng lên thì có nông dân bàn bên kia đã tính luôn cho rồi và lặng lẽ đi. Tôi bảo ông, hát ở quê càng sâu, xa càng buồn. Ông nói rằng, mình không bao giờ buồn. “Vì buồn làm sao ca nổi, bởi nghề hát coi vậy mà phải vận động toàn cơ thể trong ngoài”. Và ông bảo, người nghèo yêu thích ông là bởi giống như trong một giai điệu nhạc ông thường hát, rằng: “Càng khổ càng đau thì tình yêu càng sâu”.

Âm nhạc theo mùa

Hát là sống, nhưng rằng sống phải có cái bỏ bụng. Ông nói thật, rằng sẽ về hát ở Da Huoai khi biết mùa hái điều về. Hát ở Bảo Lộc khi biết mùa mưa trà có đọt. Hát ở Phú Sơn khi biết mùa chuối Laba già. Hát ở Di Linh khi mùa cà phê chín. Nông dân nghèo thì ông cũng nghèo theo. Nông dân rủng rẻng thì họ mới chia sẻ cho ông đôi đồng.

Rong ca xuyen mua mang - Anh 3

Ở vùng Lộc Thành, huyện Bảo Lâm, Lâm Đồng, ông cứ hát ngang qua các xóm thôn, mười nhà là hết mười bỏ tiền vào ca. Mùa sau Tết là mùa cô bác hay hào phóng. Mùa nào hát mà cô bác chỉ đứng nghe, là khi ông biết xóm làng ấy mùa vụ đang thất bát, dân tình đang gặp kỳ khốn khó. Ông nhận ra chân lý, rằng người nghèo thường có năng lượng chia sẻ, mới nhìn xuống, mới thấy ông, mới hiểu được người nghèo.

Mà mùa màng với ông không chỉ ở trong thời khắc cây trái. Ông cũng cần mùa màng để có cảm xúc mà hát. Ông như một cuốn tự điển về nhạc Boléro, Rumba. Không thống kê, nhưng ông ước mình thuộc và chơi đờn vững chắc khoảng năm trăm bài hát. Gặp lúc mùa nắng, mùa Thu ông hay hát những bài như “Người tình và Quê Hương”, “Ngọn trúc đào”, “Tình lỡ”, “Trong tầm mắt đời”, “Đường xưa lối cũ”. Gặp mùa mưa, ông hát “Hai mùa mưa”, “Mưa nửa đêm”, “Lá thư đô thị”, “Em về kẻo mưa”. Gặp mùa đông thì ca “Chuyện người đan áo”, “Lạnh trọn đêm mưa”, “Cho vừa lòng em”, “Mùa đông của anh”.

Gặp mùa xuân thì ca “Tôi chưa có mùa Xuân”, “Con đường xưa em đi”, “Mùa Xuân của mẹ”, “Xuân lỡ hẹn”... Nhưng gặp những người đang gặp chuyện buồn thì họ nhờ ông hát những gì để họ hết buồn. Thì ông truyền cho họ “lý thuyết buồn” của mình rằng, buồn nên làm cho nó buồn hơn, và chỉ có buồn hơn mới làm con người ta hết được buồn. Thế là hát, “Chuyến tàu hoàng hôn”, “Đời tôi cô đơn”, “Thói đời”, “Sầu lẻ bóng”, “Giọng ca dĩ vãng”, “Đôi ngả chia ly”... Kiểu như: Men nào bằng men yêu thương đây/ Con đường mình đi sao chua cay/ Nghe vàng mùa thu vang đâu đây/ Em ơi em ơi thu thiết tha... Hoặc: Yêu thương như nước trôi qua cầu/ Như đàn trỗi cung sầu...

Tiền bạc mất giá. Ông nhận ra xăng xe, rau cỏ, thịt thà, mắm muối, tô bún riêu, vị thuốc có bạc hà tăng giá ngút ngàn, nhưng chỉ có tiền người ta bỏ vào ca ông cứ những tờ quen thuộc, có mệnh giá thấp nhất ấy. Nhưng ông không than. Vì không có trọng tài nào cho việc này đâu, và nghiệp cầm ca của ông là không có Người quản lý hay Bầu sô...

Mấy ngày qua, tôi quay lại chợ Tùng Nghĩa; không thấy ông ngồi hát. Không gian chợ chợt buồn, thiếu đi cái gì đó đặc trưng. Tôi chạy về dãy nhà trọ nhếch nhác ông trọ. Xóm trọ bảo ông trả căn phòng đi rồi, mà đi đâu thì không ai biết. Chắc lại ở làng mạc, trang thôn, chợ quê, xó phố xa hút nào đó nữa thôi. Hình bóng người nghệ sĩ cứ cà nhắc cà nhắc, với nhạc phiêu linh trên môi tóc ấy bay lên: “Người đi đi ngoài phố, chiều bỡ ngỡ bơ vơ/ Người đi đi ngoài phố, những bước chân lạc loài”...