(HQ Online)- Quy tắc xuất xứ còn là gợi ý để cơ quan nhà nước, doanh nghiệp xúc tiến thương mại, lập kế hoạch làm ăn. “Nhiều thị trường quy tắc xuất xứ khác nhau, ứng với năng lực khác nhau, bạn hàng khác nhau, ứng với chiến lược ngắn hạn, dài hạn”, ông Võ Trí Thành, nguyên Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu và quản lý kinh tế Trung ương nói.

Quy tac xuat xu- goi y de lap ke hoach lam an - Anh 1

Doanh nghiệp có thể dựa vào quy tắc xuất xứ để có kế hoạch làm ăn. Ảnh internet.

Tốn chi phí

Nói về tác động của các Hiệp định thương mại tự do (FTA) đối với Việt Nam, ông Võ Trí Thành, nguyên Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu và quản lý kinh tế Trung ương chỉ ra những “điểm cộng” như giúp đẩy mạnh xuất khẩu, thu hút đầu tư, cải cách thể chế, dịch chuyển lao động, tái cấu trúc.

Đáng chú ý, “điểm cộng” lớn nhất cho Việt Nam nhưng lại rất ít người nhắc đến đó là cơ hội học hỏi những “người chơi” tốt nhất về đầu tư, công nghệ…

Thực tế cho thấy, các FTA Việt Nam tham gia đều có những đối tác thương mại lớn của Việt Nam như Hoa Kỳ, EU, Hàn Quốc, Nhật Bản. Những quốc gia này đều có sự phát triển về trình độ khoa học, công nghệ, có thể nói là thành công. Do vậy, khi “chơi” với những “người khổng lồ” này, cơ hội học hỏi của Việt Nam rất lớn.

Tuy nhiên, phần khó khăn cũng là điều mà ông Thành không quên nhắc đến. Tại diễn đàn xúc tiến xuất khẩu ngày 14-4, vị chuyên gia này cho rằng, phần lớn các ý kiến nói về khó khăn của Việt Nam đều nhắc đến những tác động tiêu cực đến ngành này, ngành kia nhưng khó khăn lớn nhất cho Việt Nam là tuân thủ, thích ứng với luật chơi tiêu chuẩn.

“Để tuân thủ luật chơi này tốn không ít chi phí và những chi phí đó có thể gọi tên là chi phí tuân thủ tiêu chuẩn kỹ thuật, vệ sinh an toàn thực phẩn, minh bạch, cạnh tranh…”, ông Thành nói.

Dù vậy, việc hội nhập vẫn sẽ là cuộc chơi tất yếu mà Việt Nam phải tham gia. Bởi theo ông Lương Hoàng Thái, Vụ trưởng Vụ Chính sách thương mại đa biên (Bộ Công Thương), động lực thúc đẩy thương mại thế giới trong WTO bắt đầu chững lại. Trong nhiều năm qua, hầu như WTO không đưa ra kết quả nào về thúc đẩy thương mại. Vì vậy, các nước có sự suy tính đổi cách chơi mới là hình thành các FTA với quy mô lớn. Việt Nam cũng không phải là nước ngoại lệ.

Rào cản phải vượt qua

Các FTA tạo ra vô số cơ hội từ việc giảm thuế quan, giúp cho thương mại của Việt Nam sẽ tăng lên đáng kể. Chỉ riêng Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)- Hiệp định có quy mô thương mại, kinh tế chiếm gần 40% GDP toàn cầu giúp Việt Nam tăng hơn 30% về kim ngạch xuất khẩu.

Tuy nhiên, theo ông Thành, vấn đề thương mại hiện nay phải gắn với quy tắc xuất xứ, bởi quy tắc xuất xứ giúp phân biệt hàng hóa ở Việt Nam hay Trung Quốc… Đặc biệt, quy tắc xuất xứ là “bộ nhận diện”, điều kiện để phân biệt giữa người trong câu lạc bộ với ngoài câu lạc bộ; đồng thời là rào cản bởi muốn được hưởng thuế 0% thì doanh nghiệp phải đáp ứng được vấn đề quy tắc xuất xứ.

Quan trọng hơn, quy tắc xuất xứ còn là gợi ý để cơ quan nhà nước, doanh nghiệp xúc tiến thương mại, lập kế hoạch làm ăn. “Nhiều thị trường quy tắc xuất xứ khác nhau, ứng với năng lực khác nhau, ứng với bạn hàng khác nhau, ứng với chiến lược ngắn hạn, dài hạn”, ông Thành nói.

Ví dụ như ngành dệt may, nếu muốn chơi ngắn hạn có thể chơi với thị trường Hàn Quốc (chỉ cần đáp ứng khâu cắt và may là đã được hưởng ưu đãi), hoặc dài hơn thì có thể làm từ vải trở đi EU vẫn chấp nhận. Còn muốn có giá trị gia tăng cao hơn, chiến lược dài hạn thì phải đầu tư theo yêu cầu “từ sợi trở đi” của TPP.

Còn theo khuyến cáo của ông Atsusuke Kawada, Trưởng đại diện Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (JETRO) tại Việt Nam, doanh nghiệp nên áp dụng một cách linh hoạt FTA đã có hiệu lực và TPP (dự kiến có hiệu lực từ 2018) để cân nhắc việc có thể xuất khẩu các sản phẩm của Công ty mình sản xuất ra với chi phí thấp hơn hay không; hoặc có thể mua được các nguyên vật liệu, linh phụ kiện với giá thấp hơn không.

Bên cạnh đó, để nâng cao chất lượng sản phẩm của các mặt hàng sản xuất, cần cân nhắc xem có cần phải tiếp nhận kỹ thuật tiên tiến hay không; nếu là thực phẩm thì làm thế nào để có thể sản xuất ra các sản phẩm ngon, sạch và đảm bảo an toàn.

“Theo như tôi được biết thì ngay cả người Việt Nam cũng không tin tưởng vào các mặt hàng và thực phẩm của Việt Nam nên có khuynh hướng dùng các mặt hàng ngoại được nhập khẩu chính hãng. Trước đây Nhật Bản cũng đã từng như vậy, cũng đã có thời kì mà người Nhật tỏ mối nghi ngờ cho chính sản phẩm của Nhật Bản như liệu “có rẻ không” liệu “có chất lượng không?”. Tuy nhiên, do doanh nghiệp thường xuyên chuyên tâm vào việc nâng cao chất lượng sản phẩm nên tới nay thì các sản phẩm của Nhật Bản đã đạt được trình độ như bây giờ”, ông Atsusuke Kawada nói.