Miền Trung, trong đó có Xứ Nghệ là dải đất khắc nghiệt, nắng hạn, bão giông, lũ lụt hoành hành. Đây là miền quê gian lao, nghèo khó nhưng sâu nặng nghĩa tình. Nghĩa tình sâu nặng không chỉ có ở người miền Trung với nhau mà còn là mối gắn kết bền chặt giữa người miền Trung với người ở các vùng miền khác. Đây cũng là dải đất đầy duyên nợ với thơ ca.

'Que chong' – Cam nhan ve mien que xu Nghe cua co gai Ha Thanh - Anh 1

Bến Tam Soa

Bài thơ Quê chồng của Nguyễn Thị Ngọc Hà - người con sinh ra và lớn lên ở một làng hoa nổi tiếng đất Hà Thành - cho người đọc cảm nhận đầy đủ vẻ đẹp của duyên nợ và nghĩa tình ấy.

Bến sông năm ấy tôi về

Nước lên ngập trắng con đê quê nghèo

Câu hò lỡ tuột dây neo

Để cho lạnh cả mái chèo qua sông.

***

Nửa quen nửa lạ quê chồng

Đường thôn lầy lội chiều đông vắng người

Tìm đâu khói rạ tháng mười

Khoai ngon chợ Rộ một thời ngày xưa

Chỉ còn mẹ đẫm dưới mưa

Dầm bùn đi đón dâu vừa về thăm

Rầu lòng muôn nỗi khó khăn

Mừng con mà những nếp nhăn cũng cười

Nước sông tràn mắt mẹ tôi

Tràn về tôi một dòng đời gian nan.

***

Sông Lam chịu lũ bao lần

Áo cơm nhàu nát sóng vần mà đau

Cánh cò phiêu bạt phương nao

Đồng xanh ngập nước bạc màu gió hoang.

***

Năm sau tôi trở về làng

Mẹ tôi cánh hạc đã mang về trời!

Căn nhà quạnh quẽ đơn côi

Giàn trầu héo úa đâu người sớm hôm.

Nguyễn Thị Ngọc Hà

“Bến sông năm ấy tôi về…”, câu thơ mở đầu lắng trầm, xúc động, khơi dòng hồi tưởng. Chữ nào cũng gợi cảm: “bến sông” là không gian gợi nhớ, “năm ấy” là thời gian gợi thương, “tôi về” là sự kiện gợi cảm xúc gần gũi, ấm áp. Ký ức chừng như đã rất xa nhưng đậm nét, khó quên. Những hình ảnh quá khứ ấn tượng nhất hiện về, tươi nguyên và ám ảnh. Nhưng ám ảnh nhất không phải là ấn tượng thị giác mà là những cảm giác sâu kín trong tâm hồn. Cơn đại hồng thủy đã làm cho miền quê của những câu hò, điệu ví rùng mình, kinh sợ: Câu hò lỡ tuột dây neo/ Để cho lạnh cả mái chèo qua sông. Năm ấy là năm 1978, Xứ Nghệ xảy ra trận lụt kinh hoàng.

Cái năm “Nước lên ngập trắng con đê quê nghèo” có lẽ cũng là năm tác giả bài thơ lần đầu về Xứ Nghệ. Cái cảm giác lần đầu tiên đặt chân nơi bến sông quê nghèo ấy được diễn tả thật tự nhiên mà tinh tế: “Nửa quen nửa lạ quê chồng”. “Quen” vì dòng sông, con đê, lũy tre, lối xóm, thậm chí, cả lũ lụt… đã từng được nghe chồng miêu tả và có thể hình dung phần nào. Nhưng giữa nghe kể và chứng kiến chắc chắn không thể nào trùng khít, nên thấy “lạ” - nhất là khi tận mắt thấy trận lụt mà ngay cả người địa phương cũng không tưởng tượng nổi mức độ của nó! Quê hương non xanh, nước biếc như tranh họa đồ vốn yên vui, thơ mộng, hiền hòa, giờ hiện lên thật tội nghiệp: Đường thôn lầy lội chiều đông vắng người/ Tìm đâu khói rạ tháng mười/ Khoai ngon chợ Rộ một thời ngày xưa. Thiên tai đã gây ra bao mất mát, tan hoang, chất lên mảnh đất nghèo “muôn nỗi khó khăn”!

Trong dòng hồi tưởng về nạn lụt hiện lên hình ảnh cảm động của người mẹ. Tất cả những hình ảnh của quê chồng từng được nghe đến thuộc lòng, giờ chẳng thấy đâu, chỉ nhớ mỗi dáng mẹ chồng: Chỉ còn mẹ đẫm dưới mưa/ Dầm bùn đi đón dâu vừa về thăm/ Rầu lòng muôn nỗi khó khăn/ Mừng con mà những nếp nhăn cũng cười… Thương quê chồng, con dâu lặn lội về thăm, mẹ chồng lại đội mưa, dầm bùn đi đón. Con dâu lần đầu về với miền quê gian khó, lại vào dịp mưa lũ, người mẹ nhân hậu ấy vừa mừng, vừa thương. Thương vì dâu con vất vả và mừng vì có con dâu thảo hiền. Bao nỗi niềm hiện lên qua các hình ảnh “những nếp nhăn cũng cười” và đôi mắt mẹ già chan chứa... Trong “muôn nỗi khó khăn” của đất trời khắc nghiệt, tình người càng ấm áp biết bao! Nước sông tràn mắt mẹ tôi/ Tràn về tôi một dòng đời gian nan, cảm nhận và thấu hiểu tấm lòng nhân hậu, chân chất của mẹ, người con dâu càng thương đời mẹ và thấm thía nỗi thương quê chồng: Sông Lam chịu lũ bao lần/ Áo cơm nhàu nát sóng vần mà đau/ Cánh cò phiêu bạt phương nao/ Đồng xanh ngập nước bạc màu gió hoang. Thương quê lại càng thương nhớ mẹ: Một năm sau trận lụt kinh hoàng ấy, con dâu lại trở về lúc Mẹ tôi cánh hạc đã mang về trời! Dòng hồi tưởng khép lại trong cảm xúc ngậm ngùi, sâu lắng trước thực tại: Căn nhà quạnh quẽ đơn côi/ Giàn trầu héo úa đâu người sớm hôm…

Đọc Quê chồng, ai cũng nhận thấy 2 hình tượng đẹp: mẹ chồng nhân hậu và nàng dâu hiếu thảo. Hai hình tượng này rất tự nhiên, đã soi chiếu và làm sáng lên vẻ đẹp của nhau. Vẻ đẹp ấy hiện lên qua hệ thống ngôn từ giản dị mà tinh tế, mộc mạc mà gợi cảm trong hình thức lục bát quen thuộc. Cạnh dòng Lam mùa lũ trong đời và trong thơ như chúng ta đã thấy, còn một dòng ngôn ngữ lặng lẽ vận động chảy về phía… trái tim: từ “quê nghèo” đến “quê chồng” rồi “tôi trở về làng”, từ “mẹ (chồng)” đến thân thương “mẹ tôi” rồi cung kính “mẹ tôi cánh hạc…” và tiếc nhớ “đâu người sớm hôm”… Ngoài các hình ảnh đặc sắc như mẹ “dầm bùn”, sông quê “sóng vần”, “cánh cò phiêu bạt”, đồng xanh “bạc màu gió hoang”, có lẽ ta nên chú ý đến từ “lạnh” ở câu thứ tư. Nước lũ tháng mười, nhất là vào buổi “chiều đông vắng người”, lạnh lắm. “Lạnh cả mái chèo” - đó không chỉ là cảm nhận của da thịt. Chữ “lạnh” xuất hiện rất tự nhiên nhưng tôi cứ nghĩ đó là chữ của linh giác, chữ của đồng cảm, chữ của tình yêu. Và như vậy, chúng ta phải hình dung về nhân vật thứ ba sau hình tượng mẹ chồng và nàng dâu…, bởi đó cũng là một cách chúng ta hình dung về hạnh phúc!

Có được sự đồng cảm sâu sắc ấy, cô dâu người Hà Nội đã thực sự trở thành người con của quê hương Xứ Nghệ nghĩa tình! Kết thúc bài thơ là không gian “căn nhà quạnh quẽ” nhưng mỗi lần đọc lại Quê chồng, bài thơ được viết từ năm 1998, ta lại chỉ thấy những tấm lòng nồng ấm, thiết tha…

Nguyễn Thanh Truyền