Theo một nghiên cứu của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương: Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) sau cổ phần hóa (CPH) vẫn chưa có sự thay đổi đáng kể về quản trị doanh nghiệp. Hội đồng quản trị (HĐQT) của các DNNN đã CPH mà Nhà nước nắm quyền chi phối chủ yếu vẫn bao gồm các công chức có quyền, lợi ích gắn với bộ máy điều hành hoặc kiêm nhiệm các vị trí điều hành doanh nghiệp…

Người tiêu dùng lựa chọn mua các sản phẩm của Vinamilk tại một siêu thị. Ảnh: TẤT CƯỜNG

Cụ thể, hơn 80% doanh nghiệp (DN) mà Nhà nước có cổ phần chi phối có thành viên HĐQT đồng thời kiêm nhiệm chức năng điều hành DN. Chính vì vậy, việc điều hành DN chưa bảo đảm được tính độc lập, khách quan. Các cổ đông tư nhân tham gia góp vốn sẽ rất khó điều hành và phát triển DN.

Theo các DN đã CPH, Nghị quyết 15 của Chính phủ mới chỉ giúp việc thoái vốn đầu tư ngoài ngành diễn ra nhanh hơn nhưng lại giữ cho tỷ lệ cổ phần của Nhà nước không giảm. Cụ thể là trong số 24 công ty mẹ của các tập đoàn, tổng công ty 91 chỉ có chín công ty mẹ được CPH. Nhưng tại các công ty mẹ CPH, Nhà nước nắm giữ mức vốn khá cao: từ 51% đến 75%, thậm chí 97%.

Nếu như tỷ lệ Nhà nước nắm giữ vốn tại các DN sau CPH vẫn lên tới 65% hoặc hơn nữa thì việc điều hành các DN cổ phần này về cơ bản vẫn chưa thoát khỏi cảnh “bình mới, rượu cũ”. Tuy khoác áo DN cổ phần, nhưng nhân sự chủ chốt tại đây có thể là những người do các bộ chủ quản, hoặc UBND tỉnh, thành phố cử xuống nắm giữ. Như vậy, việc thu hút vốn tư nhân, các quỹ đầu tư trong và ngoài nước sẽ rất hạn chế, vì họ ít được hoặc không có ý kiến quyết định dù có tham gia HĐQT. Nếu không thu hút được vốn đầu tư tư nhân thì CPH sẽ bị chậm lại, sẽ tái diễn tình trạng là nhà nước vẫn buộc phải nắm giữ trên 65% cổ phần tại rất nhiều DNNN sau CPH ngay cả khi Nhà nước không muốn giữ.

Theo Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương Võ Trí Thành, nhiều nhà đầu tư không quan tâm tới 432 DNNN sẽ tiến hành CPH trong hai năm 2014-2015, mà chỉ chú ý đến 100 DN là những tập đoàn, tổng công ty nhà nước lớn, vì đây mới là vấn đề cốt lõi của tiến trình CPH khối DNNN.

Trong thời gian ngắn phải CPH 432 DNNN, trong đó phải thoái vốn với hàng nghìn tỷ đồng, sẽ dễ dẫn đến thất thoát vốn, tài sản của Nhà nước. Cho nên Nhà nước muốn duy trì quyền kiểm soát tại các lĩnh vực, ngành nghề trọng yếu. Ngoài ra, cũng do sợ thoái vốn lớn, dồn dập, sợ bán vốn nhà nước với giá rẻ nên Nhà nước cần CPH tập đoàn, tổng công ty, DN theo lộ trình. Đồng thời, để CPH đạt được mục tiêu là thay đổi mô hình quản trị, có thể phân khu vực DNNN làm hai loại. Loại thứ nhất là các DNNN mà Chính phủ xác định là phải nắm giữ quyền kiểm soát. Như vậy, tỷ lệ nắm quyền sở hữu của Nhà nước sẽ gắn với quyền kiểm soát. Việc thu hút vốn của tư nhân tham gia vào các DN loại này giống như hợp tác công - tư trong đầu tư phát triển các dịch vụ hàng hóa công ích. Nhà đầu tư ở đây thường là các nhà đầu tư tổ chức đóng vai trò cổ đông chiến lược.

Loại thứ hai là các tập đoàn, tổng công ty, DNNN mà Chính phủ không nắm quyền kiểm soát nhưng muốn thoái vốn theo cách để bảo đảm lợi ích cao nhất. Với các DN dạng này, Chính phủ có thể tiến hành CPH đồng loạt, trong đó bán ra từ 5 đến 20% cổ phần cho các nhà đầu tư chiến lược và nhỏ lẻ. Với tỷ lệ bán ra không nhiều trong lần đầu có thể chấp nhận định giá thấp hơn giá trị của DN để thu hút nhà đầu tư và chuyển thành DN cổ phần. Từ đó trở đi giá trị của DN sẽ do thị trường quyết định. Đại diện vốn chủ sở hữu nhà nước tại các DN này nên chăng chỉ quyết định đến cơ cấu vốn như thoái vốn hoặc gộp vốn vào các DN, phát hành trái phiếu DN hoặc tỷ lệ vay mượn tại các tổ chức tín dụng.

Khuyến khích các nhà đầu tư tư nhân tham gia điều hành DN sau CPH, Chính phủ nên xác định lộ trình thoái toàn bộ vốn khỏi các DN này ngay từ đầu, đồng thời nên đưa ra những cơ chế khuyến khích chuyển nhượng vốn với giá ưu đãi cho những nhà quản trị DN đạt hiệu quả cao sau mỗi năm tài chính. Bằng cách này, các nhà đầu tư tư nhân sẽ nỗ lực điều hành DN cổ phần theo cách tốt nhất.

Điều làm nhiều nhà đầu tư băn khoăn còn là việc thiếu hụt nhân sự chất lượng cao điều hành DN trong các DN CPH. Do Nhà nước là chủ sở hữu chi phối DN nên hầu hết vị trí trong HĐQT, ban giám đốc đều được bổ nhiệm. Trong đó, trừ một số ít cán bộ có kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh, đa phần thiếu kinh nghiệm quản lý DN, ít va chạm với những trải nghiệm “xương máu” trên thương trường. Rồi lương thưởng, bố trí nhân sự vẫn dựa theo quy định của Nhà nước, khiến nhà đầu tư vẫn cảm thấy “mọi việc như cũ”. Ở đây, vấn đề là người điều hành phải có năng lực thật sự, có tư duy kinh doanh nhạy bén như ở Vinamilk, dám thuê nhân sự cao cấp và cho hưởng những chế độ ưu đãi vượt trội đã góp phần phát triển thị trường tiêu thụ và sản xuất, kinh doanh tăng trưởng mạnh cùng một lộ trình đi lên rõ ràng cho DN.

Làm gì để thúc đẩy nhanh CPH, cải thiện năng lực quản trị tại các DN sau CPH, đồng thời bảo đảm thoái được vốn theo giá thị trường với mức cao nhất đang là những vấn đề đặt ra cho cả Nhà nước và DN.

BĂNG CHÂU