Hiện nay, khai thác và chế biến đá vôi làm vật liệu xây dựng là một trong những hoạt động rất cần thiết và có ý nghĩa. Nó không chỉ đáp ứng được nhu cầu trong xây dựng phát triển mà còn đem lại lợi ích kinh tế lớn. Trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, trữ lượng đá vôi tuy có quy mô không lớn nhưng chất lượng đảm bảo làm vật liêu xây dựng thông thường và sản xuất xi măng.

Phu Tho: Khai thac da voi lam vat lieu xay dung – hieu qua gan lien voi no luc bao ve moi truong - Anh 1

Khai thác đá vôi làm vật liệu xây dựng giúp đem lại giá trị kinh tế lớn.

Đá vôi Phú Thọ được phân bố chủ yếu ở các huyện Thanh Sơn, Tân Sơn, Yên Lập, Cẩm Khê, Thanh Ba, Đoan Hùng… với nhiều địa hình khác nhau. Đá vôi có khu vực tạo thành những núi đá như ở Thanh Sơn, Yên Lập; có khu vực hình thành dưới mặt xâm thực địa phương (Cẩm Khê, Thanh Ba) các mỏ có phương kéo dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam.

Tổng trữ lượng là 78.426.942m 3 (cấp 121 là 51.653.938,61m 3 cấp 122 là 26.773.003,38m 3 ). Đá vôi màu xám sáng đến xám đen vi hạt đến hạt nhỏ, phân lớp mỏng đến trung bình, đôi chỗ bị hoa hóa, có xen kẹt lớp đá vôi sét hoặc sét vôi phân lớp mỏng, các đá này thường bị karst hóa mạnh. Chiều dày khoảng 650m.

Tính đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn tỉnh có 38 cơ sở được cấp giấy phép khai thác đá vôi. Trong đó, UBND tỉnh Phú Thọ cấp 36 giấy phép sử dụng đá vôi làm vật liệu xây dựng thông thường; Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp 02 giấy phép đá vôi làm nguyên liệu xi măng. Diện tích thăm dò đá vôi vôi làm vật liệu xây dựng thông thường là 5.641,86ha. Hiện chỉ có 18 mỏ đang hoạt động, còn lại đang trong quá trình xây dựng cơ bản, tạm dừng hoạt động hoặc đang làm thủ tục gia hạn.

Các doanh nghiệp được cấp phép khai thác đá vôi trên địa bàn tỉnh đã chấp hành các quy định về khai thác; đầu tư đổi mới công nghệ, máy móc khai thác, chế biến khoáng sản nhằm nâng cao giá trị, chất lượng sản phẩm, mang lại hiệu quả kinh tế, đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cho thị trường; thực hiện nghĩa vụ tài chính như thuế, phí bảo vệ môi trường…

Công tác thăm dò và khai thác đá vôi đã đóng góp cho phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh. Mỗi năm, tổng giá trị nộp ngân sách nhà nước từ khai thác khoáng sản là hơn 110 tỷ đồng. Riêng đá vôi làm vật liệu xây dựng thông thường và đá vôi xi măng là 50 tỷ đồng, bằng 45,6% tổng giá trị nộp ngân sách nhà nước. Từ đó, giúp thúc đẩy nền kinh tế địa phương phát triển, giải quyết việc làm cho hàng ngàn người lao động, nâng cao chất lượng đời sống cho người dân.

Tuy nhiên sản lượng khai thác thực tế vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Sản lượng khai thác đá vôi làm vật liệu xây dựng thông thường theo giấy phép là 1,8 triệu m 3 /năm; thực tế chỉ đạt khoảng hơn 1 triệu m 3 ; chỉ bằng 64% so với sản lượng của giấy phép. Sản lượng khai thác đá vôi làm nguyên liệu xi măng trên thực tế cũng chỉ đạt 73% so với sản lượng của giấy phép.

Trong thời gian tới, tỉnh Phú Thọ chủ trương sẽ tiếp tục chú trọng và nâng cao hiệu quả khai thác khoáng sản nói chung và khai thác đá vôi làm vật liệu xây dựng nói riêng; cải tiến công nghệ khai thác, chế biến nhằm giảm tiêu hao nguyên nhiên liệu, thân thiện với mô trường; nâng cao chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm, tạo tiền đề cho sự phát triển bền vững ngành công nghiệp khai khoáng.

Đồng thời, việc phát triển này phải đảm bảo không tách rời với công tác đảm bảo an toàn lao động và vệ sinh môi trường. Tỉnh cũng thường xuyên thanh tra, kiểm tra các cơ sở khai thác và chế biến khoáng sản; thu hồi giấy phép đối với những cơ sở vi phạm các quy định về hoạt động khai thác khoáng sản; xử phạt hành chính; kịp thời khắc phục sự cố môi trường (nếu có),...

Mặc dù việc khai thác khoáng sản trái phép gây những tác động xấu đến cảnh quan, môi trường và thất thoát tài nguyên vẫn còn, song tỉnh Phú Thọ cũng đã và đang nỗ lực hết sức mình để giảm thiểu tình trạng trên. Nhiều chính sách hỗ trợ về mặt bằng, vốn xây dựng cho các dự án lớn được ban hành; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về môi trường; xây dựng quy chế, nội quy về bảo vệ môi trường khu vực có hoạt động khoáng sản, thường xuyên kiểm tra môi trường trong hoạt động khoáng sản; xây dựng quy trình khai thác hợp lý, hoàn nguyên môi trường và tạo cảnh quan mặt bằng sau khai thác; có biện pháp xử lý và khống chế chất thải trong quá trình hoạt động khoáng sản.

Nguyễn Nhung