Trong câu chuyện về nghề cá, ngư dân ở Hòn Rớ, Phước Đồng (TP Nha Trang, Khánh Hòa) bày tỏ mong muốn có tàu hậu cần trên biển hỗ trợ trong quá trình đánh bắt xa bờ.

Phat trien tau hau can tren bien - Anh 1

Thông thường, tàu cá ngư dân ta thực hiện mỗi chuyến biển khoảng 20 ngày. Sau khi chuẩn bị mọi thứ cần thiết cho một chuyến đi biển, tàu ra khơi đánh bắt rồi trở về đất liền bán sản phẩm. Rồi lại chuẩn bị cho chuyến biển kế tiếp. Ngư dân Khánh Hòa phần lớn đánh bắt ở ngư trường Trường Sa; quãng đường đi, về quá dài khiến chi phí sản xuất bị đội lên. Hiệu quả đánh bắt, thu nhập cho từng chuyến biển, theo đó cũng bị kéo giảm đáng kể. Cho nên, ngư dân hiện đang rất cần những con tàu hậu cần trên biển đủ lớn, đủ phương tiện, thiết bị có khả năng vừa cung cấp nhiên liệu, nhu yếu phẩm vừa thu mua sản phẩm của ngư dân ngay trên biển.

Làm được như vậy, những con tàu đánh bắt không phải đi đi, về về tốn kém nhiều tiền bạc, thời gian; sản phẩm được bảo quản tốt hơn, có giá trị cao hơn. Theo tính toán, nếu có tàu hậu cần thực hiện tốt các công việc nêu trên, chưa tính tới yếu tố thời gian, chỉ riêng chi phí nhiên liệu, nhân công có thể giảm tới 70%. Cạnh đó, ngư dân tránh được nạn tư thương, đầu nậu ép giá.

Thực ra, ở Khánh Hòa, mô hình tàu hậu cần đã xuất hiện từ năm 2012. Đó là mô hình tổ hợp tác, trong đó Công ty cổ phần Thủy sản Hải Vương đại diện cho tàu mẹ Hải Vương 68 ký hợp đồng hợp tác khai thác, thu mua với sáu ngư đội câu cá ngừ đại dương của tỉnh Khánh Hòa, mỗi đội gồm năm chiếc tàu đánh bắt ở vùng biển Trường Sa.

Tàu mẹ có công suất 1.200CV; hầm đông lạnh -60oC, cung cấp dầu, đá, nước ngọt, nhu yếu phẩm và mua hết số cá đánh bắt được của các tàu con ngay trên biển. Những chuyến biển đầu tiên, ngư dân rất phấn khởi. Tuy nhiên, chỉ sau hơn ba tháng, tổ hợp tác này phải tạm dừng hoạt động. Nguyên nhân được xác định là do tàu mẹ thu mua chưa thật sự chuyên nghiệp và chưa có sự thống nhất tốt về giá cả mua bán giữa tàu mẹ và tàu con.

Như vậy, trên thực tế, ngư dân rất đồng tình ủng hộ mô hình tàu hậu cần nghề cá. Vấn đề còn lại là làm thế nào để tìm được tiếng nói chung giữa ngư dân và đơn vị thu mua trong câu chuyện quyền lợi; làm thế nào để họ có mối quan hệ, liên kết thật chặt chẽ, từ đó xây dựng mô hình tàu hậu cần nghề cá trên biển mang lại hiệu quả thiết thực.

Hiện nay, Khánh Hòa có 1.292 tàu đánh bắt xa bờ (công suất từ 90CV trở lên); tổng công suất 421.549CV; sản lượng đánh bắt năm 2015 đạt 91.743 tấn. Nếu tổ chức tốt công tác hậu cần ngay trên biển, giá trị gia tăng từ sản lượng hải sản nói trên sẽ được nâng lên đáng kể; từ đó thu nhập của ngư dân cũng sẽ được nâng cao.

Song, cái khó ở đây không chỉ có vốn, phương thức quản lý mà còn là phải tìm được đầu ra cho sản phẩm. Tàu mẹ thu mua hết hải sản của ngư dân rồi đem tiêu thụ ở đâu? Mà để tiêu thụ cho hết hàng chục đến hàng trăm nghìn tấn hải sản mỗi năm là không hề dễ dàng. Do vậy, rất cần có sự hỗ trợ của Nhà nước. Nhất là hiện nay Khánh Hòa đang được đầu tư xây dựng trung tâm hậu cần nghề cá hiện đại trong khu vực. Đây là một trong những điều kiện rất thuận lợi để triển khai thực hiện đội tàu hậu cần nghề cá xa bờ, giúp ngư dân khai thác hiệu quả hơn nữa nguồn tài nguyên biển.