Trong Quy hoạch điện VII điều chỉnh, Chính phủ không ưu tiên phát triển nhiệt điện than. Tuy nhiên, trước yêu cầu bảo đảm vận hành ổn định hệ thống điện nhất là khu vực miền Nam, nên nguồn nhiệt điện than vẫn giữ một tỷ trọng phù hợp trong tổng công suất nguồn.

Phat trien nhiet dien than phai giam o nhiem moi truong - Anh 1

Ảnh: VGP/Toàn Thắng

Để giải quyết vấn đề này Chính phủ yêu cầu phải phát triển các nhà máy nhiệt điện theo tỷ lệ thích hợp, phù hợp với khả năng cung cấp và phân bố của các nguồn nhiên liệu và thực hiện tốt các giải pháp giảm ô nhiễm môi trường.

Ông Nguyễn Anh Tuấn - Phó Viện trưởng Viện Năng lượng, Bộ Công Thương đã chia sẻ xung quanh vấn đề phát triển nhiệt điện than.

Thưa ông, vì sao trong Quy hoạch điện VII điều chỉnh, nhiệt điện than vẫn chiếm tỷ trọng đáng kể trong cơ cấu nguồn điện?

Ông Nguyễn Anh Tuấn: Từ nay đến năm 2020, để bảo đảm cung cấp đủ nhu cầu điện trong nước, đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của cả nước với mức tăng trưởng GDP bình quân khoảng 7,0%/năm, điện sản xuất tăng trên 10%/năm, đòi hỏi phải đầu tư mới nhiều dự án điện. Năm 2020, dự kiến sản lượng điện thương phẩm vào khoảng 235 - 245 tỷ kWh, tương đương với sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu là 265 - 278 tỷ kWh.

Thực tế từ các nguồn năng lượng đã và đang khai thác hiện nay cho thấy tiềm năng về thủy điện lớn và vừa hầu như đã khai thác hết, trong khi tiềm năng và trữ lượng khí đốt sẽ sớm suy giảm, năng lượng tái tạo và điện hạt nhân chưa thể đáp ứng ngay với quy mô lớn nên không còn lựa chọn nào khác là phải phát triển nhiệt điện để bảo đảm an ninh năng lượng.

Trong Quy hoạch điện VII điều chỉnh, đến năm 2020, tổng công suất các nhà máy nhiệt điện than giảm 5,3% so với Quy hoạch điện VII, chiếm khoảng 42,7% tổng công suất nguồn. Chính phủ đã loại 18 dự án nhiệt điện than như Nhiệt điện Uông Bí III, Yên Hưng, Bắc Giang, Kiên Lương… nhưng nhìn chung, nhiệt điện than trong Quy hoạch VII điều chỉnh vẫn chiếm tỷ trọng đáng kể.

Với các dự án nhiệt điện than thực hiện theo Quy hoạch điện VII điều chỉnh đã được cấp phép đầu tư, Chính phủ cũng yêu cầu phải phát triển các nhà máy nhiệt điện theo tỷ lệ thích hợp, phù hợp với khả năng cung cấp và phân bố của các nguồn nhiên liệu.

Chính phủ còn nêu rõ quan điểm ưu tiên phát triển nguồn điện sử dụng năng lượng tái tạo (NLTT), tạo đột phá trong việc đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, góp phần bảo tồn tài nguyên năng lượng, giảm thiểu tác động tiêu cực tới môi trường trong sản xuất điện. Mục tiêu đến năm 2020, từ mức chỉ chiếm 4,5% tổng điện sản xuất trong Quy hoạch điện VII, nguồn điện sử dụng NLTT sẽ được ưu tiên phát triển tăng lên 7% trong Quy hoạch điện VII điều chỉnh.

Ông có thể phân tích rõ hơn về việc vì sao phát triển nhiệt điện mới bảo đảm được yêu cầu cấp điện nội miền, đặc biệt là miền Nam?

Ông Nguyễn Anh Tuấn: Nguồn năng lượng sơ cấp của nước ta phân bố không đều, các mỏ than hầu hết tập trung ở vùng Quảng Ninh, trữ lượng khí đốt chủ yếu nằm ở thềm lục địa khu vực Đông và Tây Nam Bộ, trữ lượng thủy điện chủ yếu phân bố ở miền Bắc và miền Trung. Trong khi đó, nhu cầu tiêu thụ điện lại tập trung khoảng 50% ở miền Nam, khoảng 40% ở miền Bắc và chỉ trên 10% ở miền Trung.

Trong những năm qua, việc bảo đảm điện cho miền Nam gặp rất nhiều khó khăn do thực tế nhu cầu điện tăng mạnh nhưng việc phát triển nguồn điện tại khu vực nội miền này đang gặp nhiều khó khăn về mặt bằng, điều kiện địa chất, về cảng và kho than… Nếu không cân đối cơ bản nguồn điện tại chỗ thì sẽ phải xây dựng nhiều công trình truyền tải điện, đi liền với nó là tổn thất điện năng tăng cao, an ninh của hệ thống khó được bảo đảm do sự cố truyền tải hoặc sự cố nhà máy điện, công tác vận hành hệ thống sẽ khó khăn hơn rất nhiều lần.

Trong các quy hoạch điện quốc gia từ Quy hoạch điện IV đến Quy hoạch điện VII do Viện Năng lượng (thuộc Bộ Công Thương) chủ trì thực hiện, việc quy hoạch phát triển các nhà máy điện cũng như lưới điện truyền tải đều có các giải pháp đi kèm nhằm khai thác hợp lý các nguồn năng lượng sơ cấp của từng miền. Tiến độ xây dựng các nhà máy điện được dự kiến phù hợp với tăng trưởng nhu cầu phụ tải từng khu vực, cấu trúc nguồn điện luôn được dự kiến để chi phí đầu tư và vận hành thấp nhất. Đường dây truyền tải 500 kV được xây dựng nhằm tăng cường an ninh cung cấp điện, hỗ trợ nguồn điện giữa các miền phù hợp với yếu tố mùa của các nhà máy thủy điện, phù hợp với đặc điểm phụ tải từng miền…

Trong Quy hoạch điện VII điều chỉnh, tiến độ các dự án nhiệt điện than cũng đã được điều chỉnh phù hợp với yêu cầu cung cấp điện của từng vùng miền. Sau năm 2020, nếu các dự án nhiệt điện được đưa vào vận hành theo đúng tiến độ, sẽ bảo đảm nhu cầu cung cấp nội miền, đặc biệt là miền Nam, giảm áp lực truyền tải cao trên đường dây 500 kV Bắc - Nam, tăng cường an ninh năng lượng quốc gia.

Hiện nay, nhiều ý kiến bày tỏ lo ngại việc phát triển các nhà máy nhiệt điện than sẽ tác động xấu đến môi trường. Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào?

Ông Nguyễn Anh Tuấn: Trong Quy hoạch điện VII điều chỉnh, Chính phủ đã nêu rõ các giải pháp về giảm thiểu tác động ô nhiễm môi trường, trong đó yêu cầu sử dụng chất thải tro xỉ của các nhà máy nhiệt điện than cho sản xuất vật liệu xây dựng và các ngành công nghiệp khác nhằm giảm diện tích bãi thải, bảo đảm theo đúng quy định.

Đồng thời, khuyến khích sử dụng các dây chuyền công nghệ hiện đại nhằm giảm ô nhiễm môi trường như: Buồng đốt than phun thông số hơi siêu tới hạn, trên siêu tới hạn, công nghệ tầng sôi tuần hoàn, chu trình tuabin khí hỗn hợp, công nghệ xử lý chất thải tiên tiến…; thực hiện đầy đủ công tác theo dõi, quan trắc, đo đạc và quản lý các chỉ tiêu môi trường; thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định bảo vệ môi trường của doanh nghiệp ngành điện.

Dù không mong muốn nhưng tỷ trọng nhiệt điện than vẫn còn tiếp tục giữ ở mức đáng kể trong cơ cấu sản xuất điện. Việc áp dụng tối đa các giải pháp công nghệ tiên tiến, hiệu quả trong các nhà máy nhiệt điện sẽ giảm nhẹ tác động tới môi trường- xã hội của các dự án này.

Xin cảm ơn ông !

Toàn Thắng - Hạ An (thực hiện)