(VEN) - Với tổng trữ lượng dự báo khoảng 22 triệu tấn, có thể nói Việt Nam là một trong những quốc gia có nguồn quặng đất hiếm tương đối dồi dào. Để thấy rõ vai trò, tác dụng của đất hiếm đối với sự phát triển của các ngành công nghệ cao, hiện trạng và định hướng phát triển công nghiệp đất hiếm Việt Nam… Hội Khoa học kỹ thuật đúc luyện kim Việt Nam vừa tổ chức Hội thảo khoa học tư vấn phát triển công nghiệp đất hiếm Việt Nam.

Nhiều khu vực tại Lai Châu, Yên Bái có trữ lượng đất hiếm lớn

Đất hiếm – vàng của tương lai

Đất hiếm là một loại khoáng sản đặc biệt, nguyên tố đất hiếm có vai trò rất quan trọng và là vật liệu chiến lược đối với sự phát triển của các ngành kỹ thuật mũi nhọn, công nghệ cao như điện, điện tử, quang học, laser, vật liệu siêu dẫn, chất phát quang. Đất hiếm được dùng để sản xuất các chất xúc tác, nam châm, hợp kim, bột mài, gốm, chất phát quang. Việc chế tạo các máy điện thoại di động, ổ đĩa cứng máy tính... không thể không dùng đất hiếm. Nhiều nước coi đất hiếm là vàng của thế kỷ XXI, thậm chí của cả thế kỷ XXII. Các nhà khoa học thì gọi đất hiếm là những nguyên tố của tương lai. Theo PGS.TS Nguyễn Xuân Cự, bộ môn Thổ nhưỡng và Môi trường đất (Đại học Quốc gia Hà Nội) đất hiếm gồm 17 nguyên tố, 17 nguyên tố này đều là những nguyên tố dạng hiếm và có trong bảng tuần hoàn Men-đê-lê-ép như: Dysprosium (Dy), Erbium (Er), Europium (Eu), Gadolinium (Gd), Holmium (Ho), Lutetium (Lu), Terbium (Tb)... Ngoài ra, nhóm nguyên tố này có hàm lượng ít trong vỏ trái đất và rất khó tách ra từng nguyên tố riêng biệt.

Tài nguyên đất hiếm trên thế giới rất phong phú, tổng trữ lượng khoảng hơn 100 triệu tấn có thể khai thác sử dụng hàng trăm năm. Tỷ lệ tăng trưởng đất hiếm trên thế giới những năm gần đây khoảng 4-6%/năm, mỗi năm thế giới sản xuất và tiêu thụ hơn 130 nghìn tấn đất hiếm.

Theo các chuyên gia, quá trình khai thác, chế biến đất hiếm phát sinh nhiều nguyên tố độc hại và có tính phóng xạ, do vậy nếu khai thác, chế biến đất hiếm không đúng quy trình kỹ thuật có thể gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và những hệ lụy về môi trường, sức khỏe của người dân xung quanh khu vực khai thác.

Việt Nam có nguồn quặng đất hiếm tương đối dồi dào với tổng trữ lượng dự báo khoảng 22 triệu tấn, là một trong số các nước có trữ lượng lớn đất hiếm trên thế giới. Đất hiếm ở Việt Nam tập trung ở Lai Châu (Nậm Xe, Đông Pao), Yên Bái (Yên Phú) và các tỉnh ven biển từ Thanh Hóa vào đến Bà Rịa Vũng Tàu (trong quặng sa khoáng titan).

Giải bài toán hài hòa lợi ích kinh tế và môi trường

Nói về phát triển ngành công nghiệp đất hiếm Việt Nam, nhiều nhà khoa học cho rằng, bài toán đặt ra không hề đơn giản, từ việc khai thác, vốn đầu tư, công nghệ, xử lý môi trường, chọn hướng đi nào cho hiệu quả đều cần phải tính toán rất kỹ lưỡng…

Theo GS.TS Phùng Viết Ngư (Hội Khoa học kỹ thuật đúc luyện kim Việt Nam), mặc dù công tác thăm dò, đánh giá trữ lượng cũng như công tác nghiên cứu từ khai, tuyển đến chế biến và ứng dụng đất hiếm đã thu được nhiều kết quả tốt nhưng đến nay Việt Nam vẫn chưa xây dựng và hình thành công nghiệp đất hiếm.

Tại Việt Nam hiện chỉ có duy nhất Công ty CP đất hiếm Lai Châu khai thác quặng đất hiếm với qui mô nhỏ, một vài cơ sở sản xuất fero chắp vá, thời vụ không chuyên, có hàng ngàn tấn quặng đất hiếm monazite thu được khi tuyển quặng titan ven biển chất kho chưa được chế biến sử dụng…

Theo định hướng phát triển ngành công nghiệp đất hiếm Việt Nam đã được xác định tại Quyết định số 25/2008/QĐ-BCT ngày 4/8/2008 của Bộ trưởng Bộ Công Thương về phê duyệt Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng quặng đá quý, đất hiếm và urani giai đoạn đến 2015, có xét đến 2025… thì mục tiêu đặt ra đến 2015 khai thác và chế biến được các sản phẩm ôxyt đất hiếm riêng rẽ với tổng sản lượng đạt 10 ngàn tấn; sản xuất được một số kim loại đất hiếm với quy mô nhỏ. Đến năm 2025 sẽ nâng sản lượng lên gấp đôi, đạt 20 ngàn tấn năm, phấn đấu sản xuất được một số sản phẩm ứng dụng của đất hiếm…

Về tình hình thực hiện: Đối với mỏ đất hiếm Đông Pao (Lai Châu) đã có những hợp tác với phía Nhật Bản. Tháng 10/2011, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam và Nhật Bản đã ký bản thỏa thuận về hợp tác phát triển ngành công nghiệp đất hiếm tại Việt Nam với nhiều nội dung như thăm dò, khai thác, đào tạo nhân lực, chuyển giao công nghệ. Tại mỏ đất hiếm Yên Phú (Lai Châu) hiện Bộ Tài nguyên và môi trường cũng đã cấp phép khai thác cho Công ty CP Tập đoàn Thái Dương…

Đánh giá về tình hình thực hiện định hướng phát triển công nghiệp đất hiếm tại Việt Nam, ông Nguyễn Mạnh Quân - Vụ trưởng Vụ Công nghiệp nặng (Bộ Công Thương) cho rằng, trong bối cảnh thực tế khó khăn hiện nay (cung vượt cầu, giá đất hiếm rất thấp, trong nước không có nhu cầu), chủ yếu phải dựa vào hợp tác khai thác, chế biến và tiêu thụ với đối tác… vì vậy tiến độ khai thác và chế biến đất hiếm khó thực hiện được như tiến độ đề ra trong quy hoạch bởi những lý do như: chi phí sản xuất, chế biến đất hiếm tại Việt Nam cao hơn một số nơi khác do hạ tầng cơ sở thấp kém, sản lượng thấp (do thị trường). Tuy là nguyên liệu hiếm nhưng thị trường đất hiếm rất nhỏ bé, chỉ các quốc gia có nền công nghiệp phát triển có nhu cầu sử dụng. Ngoài ra, khai thác, chế biến đất hiếm chứa đựng nguy cơ ô nhiễm hóa chất và ô nhiễm phóng xạ từ đất hiếm... “Để phát triển bền vững ngành công nghiệp đất hiếm cần giải quyết hài hòa và triệt để bài toán hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường” - ông Nguyễn Mạnh Quân nhấn mạnh./.

Quang Nguyễn