Phóng viên TTXVN phỏng vấn ông Đôn Tuấn Phong, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký phụ trách Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam về thành tựu và những bài học rút ra trong công tác đối ngoại nhân dân.

Phat huy suc manh tong hop, nang cao hieu qua doi ngoai nhan dan - Anh 1

Ông Đôn Tuấn Phong, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký phụ trách Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam. (Ảnh: An Đăng/TTXVN)

Với vai trò làm đầu mối phối hợp trong một số hoạt động đối ngoại nhân dân và công tác phi chính phủ nước ngoài, trong những năm qua, Liên hiệp Các tổ chức hữu nghị Việt Nam đã phát huy khả năng tạo dựng cơ sở quần chúng, nền tảng nhân dân trong việc mở rộng và tăng cường quan hệ giữa Việt Nam với các nước, góp phần thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước.

Nhân kỷ niệm 66 năm Ngày truyền thống Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam (17/11/1950-17/11/2016), phóng viên TTXVN đã phỏng vấn ông Đôn Tuấn Phong, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký phụ trách Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam về thành tựu và những bài học rút ra trong công tác đối ngoại nhân dân.

- Suốt chặng đường dài hơn 6 thập kỷ qua, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam đã thực hiện tốt vai trò đầu mối trong công tác đối ngoại nhân dân. Xin ông cho biết những thành tựu nổi bật của công tác đối ngoại nhân dân trên chặng đường vừa qua?

Ông Đôn Tuấn Phong: Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam là một tổ chức chính trị-xã hội chuyên trách về đối ngoại nhân dân, đã có một quá trình gắn bó trực tiếp với lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc và công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc mấy chục năm qua.

Sự ra đời của Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam được đánh dấu bằng việc thành lập các tổ chức thành viên, đầu tiên là Hội Việt-Mỹ thân hữu năm 1945, ra đời chỉ 1 tháng sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công. Tiếp đó, Hội Việt- Hoa hữu hảo được thành lập vào tháng 2/1946. Đến năm 1950, Ủy ban bảo vệ Hòa bình Thế giới của Việt Nam được thành lập.

Ủy ban này một mặt tham gia vào phong trào bảo vệ hòa bình của nhân dân thế giới, mặt khác huy động nhân dân thế giới ủng hộ cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam. Cả ba tổ chức đối ngoại nhân dân đầu tiên này đều hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà ngoại giao nhân dân đầu tiên của Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

Ngày truyền thống của Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam được lấy theo ngày 17/11/1950, ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi bức thư lịch sử cho Đại hội thành lập Ủy ban bảo vệ Hòa bình Thế giới của Việt Nam.

Việc lấy Ngày truyền thống của Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam liên quan đến một tổ chức hòa bình, đoàn kết, hữu nghị, đa phương là phù hợp, phản ánh hoạt động đối ngoại nhân dân mang tính đa phương, đa dạng của đối ngoại nhân dân.

Trải qua các giai đoạn từ hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, giải phóng dân tộc đến thời kỳ thống nhất đất nước, đổi mới và hội nhập sâu rộng với quốc tế đều có sự đóng góp không nhỏ của Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam cho sự phát triển của đất nước.

Thông qua các hoạt động của mình, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam đã hình thành các mạng lưới bè bạn quốc tế, vận động được bạn bè trên khắp thế giới ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam; ủng hộ, giúp đỡ cả về vật chất lẫn tinh thần trong thời kỳ xây dựng đất nước; ủng hộ công cuộc đổi mới, mở cửa, tăng cường hợp tác quốc tế và hội nhập quốc tế của Việt Nam.

Thực thi chính sách đổi mới, mở cửa với phương châm: “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy trong cộng đồng quốc tế,” đối ngoại nhân dân đã mở rộng một cách tích cực để xây dựng lực lượng, đội ngũ, mạng lưới cả trong nước và trên thế giới.

Cùng với việc khôi phục, củng cố quan hệ với các tổ chức bạn bè truyền thống, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác mới với nhiều tổ chức nhân dân, các cá nhân và các tổ chức phi chính phủ ở nhiều nước, mở rộng đáng kể địa bàn quan hệ và hoạt động, phủ kín quan hệ đối tác với các địa bàn trọng điểm tạo được vị thế xứng đáng và phát huy được vai trò tích cực trong nhiều cơ chế đa phương.

Thông qua quan hệ đối tác và hoạt động đối ngoại của mình, Liên hiệp và các tổ chức thành viên đã tích cực đóng góp vào việc phá thế bao vây, cấm vận, thúc đẩy bình thường hóa, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước, góp phần tạo môi trường hòa bình thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, đóng góp tích cực vào sự nghiệp chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Công tác phi chính phủ nước ngoài do Liên hiệp làm đầu mối thường trực cũng đã được chú trọng đẩy mạnh trong những năm qua và có bước phát triển đáng kể.

Tính từ năm 1992 đến nay, số tiền viện trợ từ các tổ chức phi chính phủ ước đạt 4 tỷ USD cho hàng chục ngàn chương trình, dự án xóa đói, giảm nghèo, khắc phục hậu quả chiến tranh, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, phòng trừ dịch bệnh, bảo vệ môi trường, giải quyết các vấn đề xã hội, hạ tầng y tế giáo dục và liên quan tới biến đổi khí hậu, phát triển bền vững.

Về mạng lưới các tổ chức trong nước, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam đã có 113 tổ chức thành viên từ Trung ương đến địa phương và hàng trăm chi hội hữu nghị ở các tỉnh, thành phố, cơ quan, tổ chức trung ương.

Về bạn bè quốc tế, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam có hàng nghìn đối tác ở các châu lục, trong đó có hàng nghìn tổ chức phi chính phủ nước ngoài, trên 600 tổ chức duy trì hoạt động thường xuyên.

- Từ những thành công ấy, chúng ta có thể rút ra những bài học gì để hoạt động đối ngoại nhân dân đạt được nhiều thành tựu hơn nữa trong thời gian tới, thưa ông?

Ông Đôn Tuấn Phong: Tôi cho rằng, đối ngoại nhân dân có vị trí quan trọng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Trong thời kỳ hội nhập quốc tế, hoạt động đối ngoại nhân dân tiếp tục có vai trò ngày càng quan trọng, đặc biệt trong việc góp phần thực hiện chủ trương Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.

Trước tình hình thế giới có nhiều phức tạp như hiện nay, cần đảm bảo được sự thống nhất trong quan hệ và hoạt động đối ngoại dưới sự lãnh đạo của Đảng; tăng cường sự gắn bó, phối hợp giữa đối ngoại nhân dân với đối ngoại của Đảng và ngoại giao của Nhà nước; đồng thời cần xây dựng cơ chế đảm bảo sự phối hợp thống nhất của các tổ chức nhân dân Việt Nam trong hoạt động đối ngoại.

Với phương châm “chủ động, linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả,” Liên hiệp các tổ chức hữu nghị cần chủ động trong quan hệ với đối tác, trong việc xác định nội dung và phương thức hợp tác.

Xác định đối ngoại nhân dân là sự nghiệp của toàn bộ hệ thống chính trị, của toàn dân, mỗi người dân đều có thể là một chiến sỹ trên mặt trận đối ngoại nhân dân; chú trọng củng cố, xây dựng và phát huy vai trò của tổ chức chuyên trách trong mặt trận đối ngoại nhân dân; đẩy mạnh việc phối kết hợp với các ngành, tổ chức nhân dân, huy động được các nguồn lực về trí tuệ và vật chất trong xã hội để phát huy sức mạnh tổng hợp trong hoạt động đối ngoại nhân dân.

- Để phát huy sức mạnh tổng hợp, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại nhân dân trong tình hình mới, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam xác định những nhiệm vụ trọng tâm gì?

Ông Đôn Tuấn Phong: Trong tình hình mới, công tác đối ngoại nhân dân tiếp tục củng cố, mở rộng, phát triển các mô hình hoạt động hiệu quả đã có đối với mạng lưới bạn bè và đối tác quốc tế; chủ động, tích cực tham gia các thiết chế đa phương quan trọng như các diễn đàn xã hội thế giới, diễn đàn nhân dân khu vực và quốc tế, diễn đàn phi chính phủ của Liên hợp quốc, thông qua đó tăng cường vận động bạn bè quốc tế ủng hộ Việt Nam.

Cùng với đó, nâng cao hiệu quả công tác phi chính phủ nước ngoài; chất lượng công tác nghiên cứu, tham mưu, thông tin đối ngoại, tăng cường đội ngũ cán bộ nghiên cứu và củng cố, thiết lập, đẩy mạnh công tác triển khai nghiên cứu các đề tài, dự báo tình hình, đề xuất giải pháp và phục vụ nhu cầu thông tin quốc tế hội nhập cho nhân dân trong nước.

Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ đối ngoại nhân dân kế thừa sự nghiệp đối ngoại nhân dân, trong đó quán triệt sâu sắc Chỉ thị 04-CT/TW về tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại nhân dân trong tình hình mới; tập trung củng cố, bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên trách cơ quan thường trực Liên hiệp; tiến tới thành lập Liên hiệp các tổ chức hữu nghị ở tất cả 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, theo tinh thần Nghị quyết Đại hội 5, nhiệm kỳ 2013-2018 của Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam, tiếp tục phát triển thêm các hội hữu nghị và hợp tác với các nước đối tác và khu vực quan trọng trên cơ sở yêu cầu của quan hệ đối ngoại và tình hình đối tác.

- Trân trọng cảm ơn ông./.