Trong khuôn khổ các hoạt động thiết thực kỷ niệm 70 năm ngày Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam (9/11/1946-9/11/2016) và chào mừng Ngày Pháp luật Việt Nam (9/11), sáng 5/11, tại Nhà Quốc hội, Văn phòng Quốc hội tổ chức Hội thảo khoa học: 70 năm Hiến pháp Việt Nam.

Phat huy nhung gia tri cua Hien phap 1946 trong hoan thien he thong phap luat - Anh 1

Quang cảnh Hội thảo

Hội thảo là diễn đàn để đại biểu Quốc hội, các nhà hoạt động thực tiễn, nhà nghiên cứu trao đổi, thảo luận, góp phần tiếp tục phát huy những giá trị của bản Hiến pháp đầu tiên trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật.

Chủ trì Hội thảo, Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu nhấn mạnh, trải qua 70 năm kể từ ngày Hiến pháp năm 1946 ra đời, trong từng giai đoạn lịch sử cách mạng khác nhau, Quốc hội nước ta đã ban hành các bản Hiến pháp 1959, 1980, 1992 và 2013 trên cơ sở kế thừa và phát huy kinh nghiệm lập hiến và những giá trị chính trị, pháp lý của bản Hiến pháp đầu tiên. Tuy vậy, hoàn cảnh ra đời, nội dung và các quy trình, kỹ thuật lập hiến của bản Hiến pháp năm 1946 vẫn còn để lại những bài học cần phải tiếp tục nghiên cứu, phát huy.

Trao đổi, thảo luận tại Hội thảo, các đại biểu tiếp tục khẳng định và làm rõ ý nghĩa lịch sử của sự ra đời Hiến pháp 1946; vai trò của Hiến pháp 1946 đối với cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam và những giá trị mang tính thời đại của Hiến pháp 1946 đối với sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.

Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc cho rằng, việc đánh giá Hiến pháp năm 1946 là “bản hiến pháp đầu tiên trong toàn cõi Á Đông” của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn là một cách nói khiêm nhường. Bởi lẽ, cùng với nhiều nội dung liên quan đến quyền tự do cơ bản của con người, Hiến pháp năm 1946 còn thể hiện bước tiến có thể coi là nổi trội so với các bản hiến pháp cùng thời, ngay cả của các quốc gia có nền dân chủ phát triển.

Về những bài học kinh nghiệm trong việc tổ chức mô hình tổ chức quyền lực nhà nước, Hiến pháp 1946 đã tiếp thu có chọn lọc các hiến pháp dân chủ và tiến bộ của các nước, đồng thời đã Việt hóa một cách tối đa cho phù hợp với điều kiện của nước ta.

Điểm nổi bật của mô hình tổ chức bộ máy nhà nước trong Hiến pháp 1946 là đề cao vai trò của nghị viện nhân dân, cơ quan cao nhất của quyền lực nhà nước, nhấn mạnh vai trò của nghị viện trong việc giám sát Chính phủ; đề cao tính độc lập của hệ thống tòa án- cơ quan tư pháp; phân quyền rõ nét và hợp lý cho chính quyền địa phương… Cho đến nay, những giá trị này vẫn cần được tiếp tục nghiên cứu để phát huy trong quá trình cải cách bộ máy nhà nước, cải cách hành chính và xây dựng hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta.

Theo nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, PGS.TS Lê Minh Thông, trong bản Hiến pháp đầu tiên của dân tộc Việt Nam, các quyền tự do dân chủ của con người được đạo luật cơ bản ghi nhận và bảo đảm, cũng lần đầu tiên người dân Việt Nam được xác nhận có tư cách công dân của một nước độc lập, có chủ quyền.

Ngay trong lời nói đầu của Hiến pháp 1946 đã khẳng định, việc đảm bảo các quyền tự do dân chủ là một trong ba nguyên tắc làm nền tảng cho việc xây dựng Hiến pháp. Các quyền lợi của công dân được ghi nhận và bảo vệ trong Chương 2 của Hiến pháp trải rộng trên tất cả các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, bao gồm cả các quyền cá nhân và quyền nhóm.

PGS.TS Vũ Công Giao cho rằng, quyền công dân được đặc biệt đề cao trong Hiến pháp 1946. Chế định này được xây dựng với cách tiếp cận cởi mở, tiến bộ, cập nhật với tư tưởng chung của nhân loại nhưng khoa học, chặt chẽ và mang tính thực tế cao. Từ cách tiếp cận, nội dung cho đến ngôn ngữ sử dụng trong việc hiến định các quyền công dân trong Hiến pháp 1946 cho thấy sự kết hợp hài hòa giữa những giá trị tiến bộ của văn minh phương Tây với những tư tưởng và điều kiện hoàn cảnh đặc thù của dân tộc Việt Nam ở thời kỳ đó. Cách tiếp cận, kỹ thuật và nội dung hiến định về quyền trong Hiến pháp 1946 cho đến nay vẫn là các tiêu chí tham khảo quan trọng cho việc sửa đổi, bổ sung và thực hiện các quyền hiến định ở nước ta.

Cùng quan điểm, GS.TS Nguyễn Đăng Dung đánh giá Hiến pháp 1946 có cách tiếp cận gần với quyền con người nhất. Quyền công dân được Hiến pháp 1946 quy định ngay ở các chương đầu tiên, làm cơ sở cho việc quy định các chương khác.

Các đại biểu cũng nhất trí cho rằng, Hiến pháp 2013 thể hiện sự kế thừa và phát triển những tư tưởng và nguyên tắc cơ bản về quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp 1946. Những kế thừa, phát triển đó tạo lập cách tiếp cận mới gắn với nhận thức chung của nhân loại và các tiêu chuẩn của luật nhân quyền quốc tế. Hiến pháp 2013 đã đánh dấu một bước tiến lớn trong vấn đề nhân quyền so với Hiến pháp 1959, 1980 và 1992. Điều này cho thấy nỗ lực của các nhà lập hiến trong việc hoàn thiện khuôn khổ hiến định để bảo đảm tốt hơn các quyền con người, quyền công dân ở nước ta trong thời gian tới.

Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu ghi nhận những ý kiến đóng góp, trao đổi của các đại biểu, đánh giá Hội thảo đã đạt được mục tiêu đề ra.

Phó Chủ tịch Quốc hội cho rằng, Quốc hội, các cơ quan hữu quan cần tiếp tục kế thừa phát triển các giá trị, nội dung của Hiến pháp 1946 vào hoạt động lập hiến, lập pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền, tổ chức thực hiện quyền lực nhân dân, quyền lực Nhà nước thực chất, khoa học, hiệu quả trên tinh thần phân công, phối hợp, kiểm soát để xây dựng nhà nước kiến tạo phục vụ nhân dân. Bên cạnh đó, cần phải tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật thể chế hóa các quy định của Hiến pháp 2013 hoàn thiện cơ chế kinh tế thị trường, tổ chức bộ máy nhà nước, bảo đảm quyền con người, quyền công dân; đẩy mạnh triển khai thi hành Hiến pháp hiệu lực, hiệu quả.

PV