Lượng nhà đầu tư đăng kí mua gấp 39 lần giá trị TPCP phát hành mới. Cả bên mua và bên bán cùng hân hoan.

Hồi cuối tháng 10, Bộ Tài Chính đã thay mặt Chính phủ phát hành thành công 1 tỉ USD trái phiếu ra thị trường quốc tế. Thông tin đáng chú ý là Chính phủ phát hành 1 tỉ USD trái phiếu, nhưng nhu cầu của nhà đầu tư quốc tế lại lên đến 10,6 tỉ USD. So với mức lãi suất xấp xỉ 7% của 1,75 tỉ USD trái phiếu chính phủ phát hành ra thị trường quốc tế vào năm 2005 và năm 2010, mức lãi suất trong đợt phát hành vừa rồi chỉ 4,8%/năm. Một mức giảm được cho là có lợi xét về mặt chi phí trả nợ.

Tuy nhiên, mục đích của đợt phát hành trái phiếu lần này là gì? Việc nhu cầu mua trái phiếu của nhà đầu tư quốc tế quá lớn nói lên điều gì? Đây là những vấn đề đang được quan tâm. NCĐT đã trao đổi với Thứ trưởng Bộ Tài chính Trương Chí Trung xung quanh nội dung này.

Chúng ta phát hành 1 tỉ USD trái phiếu, nhưng nhu cầu mua lên tới 10,6 tỉ USD, trong khi mức lãi suất chỉ 4,8%. Thành công này là do đâu?

Yếu tố quan trọng nhất là kinh tế vĩ mô từ năm 2012-2014 đã ổn định cũng như tính hiệu quả của các chiến lược phát triển, tái cấu trúc nền kinh tế. Khi Bộ Tài chính thay mặt Chính phủ thực hiện các buổi quảng bá đến nhà kinh tế, nhà đầu tư ở nhiều châu lục, họ đánh giá rất cao những nỗ lực của Chính phủ Việt Nam và tin nền kinh tế phát triển tốt và ổn định. Đó là lý do họ muốn nắm giữ trái phiếu của Chính phủ Việt Nam.

Đâu là điểm thành công của đợt phát hành trái phiếu lần này, thưa ông?

Thành công đầu tiên là chúng ta đã thực hiện được đúng các mục tiêu khi phát hành trái phiếu quốc tế. Đó là tạo ra lãi suất chuẩn thấp hơn so với hiện tại. Lãi suất trái phiếu quốc tế chuẩn của chúng ta khoảng 7% thì chúng ta đã phát hành được 1 tỉ USD trái phiếu thời hạn 10 năm với lãi suất chỉ 4,8%. Đây là lãi suất chuẩn không chỉ làm rẻ đi chi phí trả nợ gần 50 triệu USD trong đợt phát hành này, mà còn tạo cơ hội cho các tổ chức của Việt Nam phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế với mức lãi suất thấp hơn hiện tại. Đây là lợi ích dài hạn.

Bên cạnh đó, trong đợt phát hành trái phiếu lần này, chúng ta đã hoán đổi một lượng lớn trái phiếu chính phủ đã phát hành năm 2005 và năm 2010 và sắp đến hạn trả nợ. Ví dụ, đến năm 2016 chúng ta phải trả nợ 750 triệu USD trái phiếu thì đã hoán đổi được hơn 407 triệu USD từ mức lãi suất 6,875% xuống còn 4,8%/năm. Đồng thời, cũng hoán đổi hơn 250 triệu USD trái phiếu năm 2010 có thời điểm đáo hạn vào năm 2020 từ 6,75% xuống 4,8%.

Đợt phát hành này có kế hoạch sử dụng như thế nào, thưa ông?

Mục tiêu phát hành trái phiếu lần này là tái cơ cấu nợ công. Các trái phiếu chúng ta đã phát hành năm 2005 và năm 2010 là 1,75 tỉ USD với chi phí cao. Còn đợt phát hành lần này là nhằm kéo dài thời gian trả nợ. Ở đây, chi phí trả nợ đã thấp đi. Mục tiêu này chúng ta đã làm tốt.

Nghĩa là không dùng khoản tiền phát hành thêm này để phục vụ chi thường xuyên?

Đợt phát hành lần này chủ yếu là cơ cấu nợ và quản lý nợ chủ động trên danh mục hiện có, trên cơ sở giảm chi phí và không tăng nợ công. Đây là thời điểm tốt để làm điều này. Nếu chậm hơn thì sẽ không tốt.

Thưa ông, có rủi ro nào đối với việc phát hành trái phiếu lần này hay không? Liệu mức lãi suất 4,8%/năm đã là thấp?

Chúng ta đã tính toán các thời điểm phát hành rất đúng. Đây là thời điểm lãi suất thế giới đang thấp. Khi chúng ta phát hành hôm 29.10.2014, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đã tuyên bố chấm dứt thực hiện chương trình nới lỏng định lượng. Như vậy, lãi suất thị trường thế giới sẽ tăng. Đó là một rủi ro.

Thứ hai là trước Việt Nam chưa đầy 1 tháng, Sri Lanka cũng phát hành trái phiếu quốc tế. Họ có xếp hạng tín nhiệm như chúng ta, nhưng lãi suất của họ là 5,6%/năm. Hungary, cũng có cùng mức tín nhiệm như chúng ta, thì có lãi suất trái phiếu 10 năm 5,5%. Như vậy, rủi ro của Việt Nam là có thể phải huy động với mức lãi suất cao hơn.

Tuy nhiên, qua cách tiếp cận, các hoạt động quảng bá, gặp gỡ các nhà đầu tư chiến lược tại Singapore, Hồng Kông, Mỹ (Boston, New York, San Francisco), Anh (London), chúng ta đã giải thích rất rõ tiềm năng cũng như sự ổn định của nền kinh tế Việt Nam.

Chúng tôi cho rằng thậm chí Moody’s và Fitch còn chưa đánh giá đúng tiềm năng của Việt Nam. Nhiều nhà đầu tư cũng đồng tình với điều này. Ít khi nào mà ở những cuộc gặp gỡ này, Thứ trưởng là người đứng ra gặp gỡ hàng trăm nhà đầu tư ở các quốc gia, nên họ đánh giá rất tốt. Do đó, nhà đầu tư chấp nhận mức lãi suất huy động là 4,8%/năm.

Quyết định khó khăn nhất trong quá trình phát hành là gì, thưa ông?

Đó là khi mở thầu, nên chọn mức lãi suất nào. So sánh với Sri Lanka và Hungary, chúng tôi đưa ra mức lãi suất 5,125%/năm. Có khả năng khi đưa ra mức lãi suất thấp như vậy, sẽ không có ai mua. Nhưng rất mừng là sức cầu trái phiếu tăng liên tục, lên đến 500 triệu USD. Lúc đó, chúng tôi chọn chiến thuật làm nhanh, chỉ mở thầu trong vòng 24 tiếng. Toàn bộ thị trường cả ba châu lục là châu Á, châu Âu, châu Mỹ, mỗi thị trường chỉ 6 tiếng. Khi đó, nhu cầu mua tăng cao lên đến 7,7 tỉ USD. Chúng tôi thấy nhận định đưa mức lãi suất khởi điểm 5,125% là đúng.

Do đó, chúng tôi tiếp tục đưa ra lãi suất gợi ý hạ xuống là 4,8-4,9%. Lúc đó, nhu cầu mua có giảm chút ít, nhưng sau nửa giờ lại tiếp tục tăng lên đến 10,6 tỉ USD. Điều đó cho thấy niềm tin dài hạn của nhà đầu tư vào nền kinh tế Việt Nam, nên nhu cầu mua mới lớn như vậy.

Vì không chỉ phát hành mà hoán đổi cho các trái phiếu năm 2016 và 2020, nên chúng tôi đã ưu tiên cho những người hoán đổi trái phiếu. Lúc đầu, các nhà đầu tư chỉ đặt vài chục triệu USD đối với trái phiếu đáo hạn năm 2016, nhưng sau khi chúng tôi khuyến khích thì có hơn 400 triệu USD được hoán đổi (theo giá thị trường là gần 436 triệu USD). Và hơn 254 triệu USD trái phiếu năm 2010 được hoán đổi (theo giá thị trường là hơn 290 triệu USD).

Sau khi trừ đi khoản hoán đổi, lượng trái phiếu phát hành mới vào khoảng gần 273 triệu USD. Có nghĩa là 10,6 tỉ USD cầu mua trái phiếu, gấp gần 39 lần so với 273 triệu USD phát hành. Đây là một bước đi thành công cả về số lượng đầu tư lẫn tỉ lệ hoán đổi.

Moody’s và Fitch đã đánh giá tín nhiệm của Việt Nam tốt hơn. Yếu tố này nói lên điều gì?

Moody’s nâng xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam vào tháng 6 trong khi Fitch vừa nâng một hạng cho Việt Nam vào cuối tháng 10. Điều đó cho thấy nền kinh tế Việt Nam đã và đang tốt lên.

Chính phủ cũng đã chỉ đạo Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với các cơ quan khác, làm việc với các tổ chức xếp hạng tín nhiệm để từng bước nâng mức xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam. Mục tiêu đến năm 2020, Việt Nam sẽ thăng hạng 3 bậc nữa. Lộ trình này đang được thực hiện đúng và chúng tôi tin rằng với sự ổn định vĩ mô, mục tiêu này có thể đạt sớm hơn năm 2020. Khi được Fitch, Moody’s và S&P’s nâng hạng, lúc đó lãi suất vay vốn sẽ rất thấp.

Moody’s và Fitch đánh giá Việt Nam có vẻ còn thận trọng, trong khi các nhà đầu tư cho rằng khả năng xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam còn cao hơn thế?

Các tổ chức này nhìn vào các chỉ số vĩ mô để xếp hạng tín nhiệm. Chúng tôi nhận thấy mỗi công ty có phương pháp khác nhau. So với các nền kinh tế khác, chính sách của chúng ta có sự khác biệt. Nhưng sự thấu hiểu của các tổ chức này là chưa hoàn toàn kỹ, nên họ đánh giá mang tính chắc chắn, an toàn thấp đi một chút.

Nhiều nhà đầu tư lớn am hiểu về Việt Nam cũng có nhận định như vậy. Nghĩa là nhà đầu tư đánh giá lẽ ra xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam phải tốt hơn thế. Đó là lý do chúng tôi đưa ra mức lãi suất 5,125%. Đưa mức lãi sất thấp quá thì đợt phát hành sẽ thất bại, còn chào cao quá thì không được.