"Điều cảm động nhất còn lưu lại trong tôi về các thầy cô giáo của tôi là các thầy cô tôi đã sống, làm việc với tinh thần xả thân, khai sáng. Họ làm việc vì trách nhiệm trước xã hội, vì học trò, nhận về mình sứ mệnh đi tiên phong, mở lối như những người đi tìm chân lý, hướng cả xã hội đến một thế giới tốt đẹp hơn"- PGS.TS Phạm Quang Long.

PGS.TS Pham Quang Long: Chan hung dan khi phai bat dau tu dao hoc - Anh 1

PGS.TS Phạm Quang Long.

Người thực hiện cuộc phỏng vấn này có hân hạnh được làm học trò của PGS.TS Phạm Quang Long trong quãng thời gian khoảng 2 năm. Những bài giảng văn học đầy truyền cảm của thầy, với một cách dạy văn không đơn thuần chỉ là kiến thức mà đan xen những câu chuyện cuộc đời, tình người đầy chất nhân văn… đã tác động sâu sắc đến những năm tháng sinh viên và cả quãng thời gian làm báo của tôi sau này.

Quá trọng ông trong cương vị một người thầy trên bục giảng, sau này khi ông sau khi lần lượt đảm nhận các cương vị Chủ nhiệm khoa Văn, Hiệu trưởng trường ĐHKHXH và NV, Phó Giám đốc ĐH Quốc gia Hà Nội rồi đột ngột rẽ sang làm Giám đốc Sở VH – TT – DL Hà Nội, tôi nghĩ rằng chắc cũng như tôi, những ai từng là học trò của thầy đều ít nhiều có những tiếc nuối. Cho nên, buổi cuối cùng khi thầy rời nhiệm sở để nghỉ hưu, tôi đã phải nói thật lòng rằng rất mừng, rời công việc quản lý để lại trở về với giảng dạy và nghiên cứu mới là “chỗ” của thầy. Những tâm sự của ông dưới đây là nỗi niềm nhớ về một thời mà các thầy cô giáo “đã sống, làm việc với tinh thần xả thân, khai sáng” và những lo lắng cho đạo học ngày nay.

PV: Thưa thầy, vào dịp Ngày Nhà giáo 20-11 năm nay, Khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội (Nay là trường ĐH KHXH và NV Hà Nội) kỷ niệm 60 năm thành lập. Từng là sinh viên ở đây, rồi sau này làm Chủ nhiệm Khoa, Hiệu trưởng, cảm xúc của ông thế nào?

PGS.TS Phạm Quang Long: Cảm xúc của tôi về các thầy cô, bạn bè, sinh viên cũ rất nhiều. Buồn vui lẫn lộn. Vui vì có dịp được gặp lại nhiều thầy cô, bạn bè và cả sinh viên cũ. Cũng bùi ngùi, thậm chí có cả những nỗi buồn khi nhiều thầy cô cũ đã không còn, nhiều thầy cô tuổi tác cao, sức khỏe yếu, không có điều kiện trở lại trường cũ, khoa xưa. Ngay cả tôi thôi, cũng đã sắp bước vào lớp người “cổ lai hi” rồi, tránh sao được tâm tư này. Hơn nữa, đạo học ngày nay, tâm thế ngày nay cũng có những điều lo lắng không phải của một cá nhân nào mà là của chung xã hội.

Tôi có may mắn được học hành ở một trong những khoa mà nội dung khoa học của nó gắn liền với tinh thần hướng tới những giá trị nhân văn, những cái cao quý, ở phía ngược lại là căm ghét cái xấu, cái ác, những cái làm cho con người bé mọn đi. Được nuôi dưỡng trong không khí ấy nên những thứ tôi học được không chỉ là những tri thức để làm việc mà là hành trang vào đời. Tôi mãi mãi biết ơn sự ngẫu nhiên đã đưa tôi đến với trường này, với nghề này và dù sống cả đời với nghề không thể giàu có nhưng nếu được lựa chọn trở lại, tôi vẫn chọn như cũ, dù bây giờ có chút xót xa hơn khi cái nghề mình học và theo đuổi đã nhạt nhòa đi nhiều trong đời sống hiện nay.

Điều cảm động nhất lưu lại trong ký ức về một thế hệ những người thầy đối với sinh viên thời ấy là gì, thưa thầy?

- Điều cảm động nhất còn lưu lại trong tôi về các thầy cô giáo của tôi là các thầy cô tôi đã sống, làm việc với tinh thần xả thân, khai sáng. Những năm tháng gian khổ thời bao cấp, chiến tranh, ăn không đủ no, thiếu thốn trăm bề mà sao các thầy cô đã viết nên những công trình nghiên cứu dày dặn, sâu sắc thế. Có thể nói đạo lý làm thầy, trách nhiệm với đời đã khiến họ miệt mài làm việc, trở thành những nhà khoa học, nhà văn hóa như những đòi hỏi tự thân, như việc phải làm mà không cần bất cứ danh xưng to tát nào. Họ làm việc vì trách nhiệm trước xã hội, vì học trò, nhận về mình sứ mệnh đi tiên phong, mở lối như những người đi tìm chân lý, hướng cả xã hội đến một thế giới tốt đẹp hơn. Tính lý tưởng (và có cả ảo tưởng nữa) ở thời ấy dường như cũng đậm nét trong đời sống hơn thời bây giờ thì phải vì ở thế hệ các thầy cô thời ấy đã sống và làm việc như vậy. Đó là đạo lý của cả xã hội chứ không của riêng một nơi nào, một trường nào. Không có tâm thức ấy chắc chắn sẽ không có được những người con xả thân mình cho đất nước như trong mấy cuộc chiến tranh chúng ta đã trải qua. Tâm thức ấy các thế hệ sau không có được. Tôi mãi mãi biết ơn các thầy, cô tôi, biết ơn sự chăm lo của cả xã hội nếu không những học sinh nghèo như chúng tôi khó có điều kiện học hành.

Thầy có thể lý giải vì sao sinh viên khoa văn thời ấy, có nhiều người trở thành những người thành đạt và nổi tiếng?

- Đây là một câu hỏi khó, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu cẩn trọng mới có thể kết luận được. Riêng tôi, tôi cho rằng, trước đây (sau 1954 đến hết chiến tranh), cả miền Bắc mới có 4,5 trường đại học. Những người xuất sắc nhất thường vào học ở những trường này hoặc đi học ở nước ngoài. Về một phương diện nào đó, họ là lớp người có nhiều phẩm chất để trở thành tinh hoa của xã hội. Trong họ vừa có sẵn năng khiếu, thái độ khao khát học tập, tích lũy tri thức, mong học thành tài để cống hiến cho xã hội nên họ trưởng thành nhanh.

Và đặc biệt là họ ít nghĩ đến những lợi ích riêng tư, đến những thủ đoạn leo nhanh, leo cao để ấm thân mình và vun vén cho bản thân. Họ thực sự làm việc theo tinh thần cống hiến. Và họ trưởng thành trong công việc, trong cuộc sống. Họ thành những người giỏi chuyên môn và có phẩm chất công dân vượt trội. Bây giờ, trường đại học nhiều, nghề văn khó thành đạt hơn các nghề khác, người có năng lực thực sự ít thi vào khoa Văn. Vẫn có những người thành đạt nhưng không phải bằng nghề được đào tạo. Cơ chế thị trường không thích hợp với những ngành nghề tuy cần cho con người, tương lai dân tộc như các ngành văn học, ngôn ngữ, lịch sử, khảo cổ, văn hóa…

Ngần ấy năm làm thầy, trong cuộc đời mình, cho đến giờ ông có nhiều thất vọng về học trò không?

- Làm sao tránh được điều đó, nhất là trong tình trạng hiện nay. Tôi đã có những cay đắng khi bị học trò phản bội, khi gặp những học trò hư. Nhà trường là xã hội thu nhỏ mà. Phải chấp nhận thôi. Mình cũng có lúc thấy chán ghét mình thì tránh sao được những lúc thế này, thế khác. May mà những lúc như thế không nhiều. Ngay bây giờ, tôi vẫn thấy vui, yêu mến cái nghề chèo đò, chở đò và luôn chờ đợi những người được mình chở qua sông thành đạt. Họ học ở trường những kiến thức ban đầu còn trường đời dạy cho họ nhiều hơn, họ tự học, tự vươn lên nhiều chứ. Ai làm nghề dạy học cũng hiểu điều đó. Nhà trường trang bị cho họ kiến thức ban đầu để họ biết cách tự học và học như thế nào trong đời để có kết quả. Cái ban đầu không thật nhiều nhưng nó là cơ sở, là nền tảng, là định hướng. Tôi cho rằng cái đó quan trọng vô cùng. Điều này lý giải tại sao rất nhiều người thành đạt hay không đều nghĩ về mái trường cũ của mình với sự trân trọng và biết ơn.

Đạo làm thầy và đạo làm trò ngày ấy với ngày nay có gì khác nhau, thưa ông?

- Tôi nghĩ có cái không đổi và cũng có không ít cái thay đổi. Cuộc sống là vậy mà. Thầy phải giữ đạo làm thầy và trò cũng phải giữ đạo làm trò thì cái đạo học, sự học mới ngay ngắn được. Tôi cứ nhớ mãi câu thơ cổ: Cơm kẻ bất nhân, ăn, ấy chớ/Áo người vô nghĩa, mặc, chẳng thà như lời răn dạy của tiền nhân về đạo làm người. Làm người đã thế, đạo học đòi hỏi còn khắt khe hơn. Cái sự tu thân của người xưa để được gọi là thầy nó nghiêm cẩn lắm. Ngày nay cái sự ấy cũng đã phôi pha đi nhiều. Tâm thế xã hội về cái gọi là “giáo dục như một dịch vụ công”, người ta trả tiền để nhận được dịch vụ tương xứng là sòng phẳng và đúng luật nhưng tôi nghĩ trong quan hệ thầy trò có còn mang tính chất khác nữa. Nó có cái thiêng liêng và tình cảm con người chứ không chỉ là sự sòng phẳng của thị trường.

Tôi nghĩ cái mất lớn nhất của quan hệ này trong đạo học là ở đây. Tất nhiên, trong cái mất mát đó có cả lý do từ người dạy và người học, của quan niệm về giá trị trong xã hội chứ không của riêng ai. Người dạy và người học cần dân chủ, bình đẳng hơn nhưng dân chủ và bình đẳng trong đạo học không đồng nghĩa với việc coi mọi thứ như nhau, đánh giá sự vật theo góc nhìn của trao đổi giá trị. Như chuyện lý trí và tình cảm, tình và nghĩa vậy. Lẫn lộn một tí là đổ vỡ ngay. Điều làm tôi lo lắng là giáo dục góp phần tạo nên nhân cách con người; đạo học góp phần làm nên bản lĩnh, cốt cách của một dân tộc, cộng đồng. Cái này mà nghiêng ngả thì nguy hại cho giống nòi, con cháu biết chừng nào. Chấn hưng văn hóa, chấn hưng dân khí chắc phải bắt đầu từ sự học, từ đạo học. Cái này là bất biến.

Xin trân trọng cảm ơn thầy và kính chúc thầy sức khỏe!

Cái sự tu thân của người xưa để được gọi là thầy nó nghiêm cẩn lắm. Ngày nay cái sự ấy cũng đã phôi pha đi nhiều. Tâm thế xã hội về cái gọi là “giáo dục như một dịch vụ công”, người ta trả tiền để nhận được dịch vụ tương xứng là sòng phẳng và đúng luật nhưng tôi nghĩ trong quan hệ thầy trò có còn mang tính chất khác nữa. Nó có cái thiêng liêng và tình cảm con người chứ không chỉ là sự sòng phẳng của thị trường. Tôi nghĩ cái mất lớn nhất của quan hệ này trong đạo học là ở đây”- PGS.TS Phạm Quang Long.

Cẩm Thúy (thực hiện)

Từ khóa

chấn hưng dân trí đạo học phạm quang long