“Năm năm qua là giai đoạn khó khăn nhất của 30 năm đổi mới... Chúng ta phải thực hiện đổi mới lần hai, nếu không chúng ta sẽ ứng phó thế nào từ tác động rất mạnh của cú “hạ cánh” của Trung Quốc sắp tới đây?”.

Ong Tran Dinh Thien: "Phai thuc hien doi moi lan hai"! - Anh 1

Ông Trần Đình Thiên. Ảnh TH

Ông Thiên đã đặt ra những vấn đề này tại “Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2016 trong giai đoạn mới: thách thức tái cơ cấu và triển vọng” diễn ra sáng nay, 12-10 tại Hà Nội. Chủ đề tái cơ cấu nền kinh tế lại được đặt ra trong một đề án tái cơ cấu mới đang được bàn thảo tại Hội nghị trung ương đang diễn ra, cũng như sẽ được thảo luận tại kỳ họp Quốc hội tới đây.

Tái cơ cấu ngay bộ máy điều hành tái cơ cấu

Ông nhận xét, 5 năm vừa qua là 5 năm vật lộn với tái cơ cấu, cũng là 5 năm khó khăn nhất của 30 năm đổi mới. Nhưng quá trình tái cơ cấu dường như thiếu động lực thúc đẩy, thiếu niềm tin và sự lạc quan, hào hứng như thời đổi mới.

Kết quả là tái cơ cấu tiến triển rất chậm, thành quả đạt được khá hạn chế, còn xa mới đạt mục tiêu và kỳ vọng.
Cơ chế đầu tư công thực chất vẫn chưa thay đổi, vẫn lấy “xin – cho” làm trụ, trong khi khó khăn ngân sách trở nên trầm trọng hơn và nợ công tăng nhanh.

Hệ thống ngân hàng đã “trụ” được qua cơn sóng gió, song “cục máu đông” - nợ xấu hầu như vẫn còn nguyên, thậm chí khối lượng nợ xấu còn tăng lên. Hệ thống ngân hàng đang thanh lọc, loại bỏ những bộ phận yếu kém, hư hỏng, song đang rất yếu, đang vận hành trên một nền tảng rất thiếu vững chắc.

Hệ thống doanh nghiệp nhìn chung là yếu, đặc biệt là lực lượng doanh nghiệp nội địa, cả khu vực nhà nước và khu vực tư nhân - thấp về đẳng cấp, yếu về thực lực và sức cạnh tranh. Cho đến nay, Chính phủ đã cổ phần hóa được không ít DNNN, song thực chất tái cơ cấu thông qua cổ phần hóa – phân bổ lại nguồn vốn quốc gia, chuyển một phần nguồn vốn cho khu vực tư nhân quản lý sử dụng – chỉ đạt được không đáng kể - có thể chỉ 10-15% tổng số vốn của các DNNN được cổ phần hóa. Đó thực sự là một tỷ lệ quá ít ỏi để thay đổi hệ thống quản trị doanh nghiệp – yếu tố cốt lõi để cải thiện căn bản hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Dường như cách cổ phần hóa DNNN vẫn theo logic “hoàn thành nhiệm vụ”, được dẫn dắt bởi “chủ nghĩa thành tích” chứ không phải đi vào thực chất của sứ mệnh phải làm.

Ông Thiên nhận xét, kết quả tái cơ cấu khiêm tốn cũng có nghĩa là mô hình tăng trưởng không thay đổi được bao nhiêu. Kết quả như vậy tự nhiên làm nẩy sinh câu hỏi: phương cách tái cơ cấu của 5 năm qua hợp lý đến mức nào? Nếu phương cách đó là đúng thì vấn đề ở đâu – do chúng ta chưa tập trung hành động, hay do trong toàn bộ chương trình tái cơ cấu, còn yếu hay thiếu một khâu nào đó – ví dụ khâu “tái cơ cấu chính bộ máy điều hành tái cơ cấu”?

Lo láng giềng “hạ cánh cứng”

Đặt lại vấn đề tái cơ cấu, theo ông Thiên, là rất cần thiết khi bối cảnh phát triển trong giai đoạn tới của Việt Nam rất khác. Hội nhập đã chuyển sang một giai đoạn mới về chất.

Chỉ trong năm 2015, Việt Nam đã hoàn thành đàm phán và đi vào thực thi hàng loạt hiệp định hội nhập thế hệ mới, có trình độ rất cao. Nhiều đối tác trong các hiệp định là những cường quốc kinh tế hàng đầu thế giới – Mỹ, Nhật Bản, Canada, Úc, 27 nền kinh tế EU, Nga và Hàn Quốc. Các điều khoản cam kết của các hiệp định đều đòi hỏi về trình độ và tiêu chuẩn rất cao, điều kiện thực thi rất nghiêm ngặt.

“Việt Nam phải thay đổi căn bản thực lực của mình mới “bám” vào được các cấu trúc hội nhập này, qua đó, hưởng lợi ích hội nhập để vượt lên. Nghĩa là chúng ta phải ráo riết tái cơ cấu, nhưng là tái cơ cấu theo hướng hội nhập hiện đại, bảo đảm tuân thủ các cam kết hội nhập. Chỉ có như vậy, nền kinh tế mới tránh khỏi lặp lại tình thế “hậu WTO”, để có năng lực thực thi hội nhập và thật sự dựa vào hội nhập để tiến lên”, ông nói.

Ông Thiên bổ sung thêm, một yếu tố đặc biệt quan trọng, có tác động rất mạnh đến tư duy và định hướng tái cơ cấu kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn tới là triển vọng nền kinh tế Trung Quốc, mà khả năng “hạ cánh cứng” của nền kinh tế này là điều được dự báo là khó tránh khỏi.

Theo ông Thiên, nền kinh tế khổng lồ này chắc chắn sẽ gây ra những chấn động cơ cấu lớn cho cả thế giới. Việt Nam ở ngay gần kề Trung Quốc, đang bị lệ thuộc khá nặng nề vào kinh tế Trung Quốc, lại đang trong giai đoạn khó khăn, thậm chí là rất khó khăn. Tái cơ cấu không có gì khác hơn là nền kinh tế đang “lột xác”, một tạo “đột biến cấu trúc” để trưởng thành, nhưng cũng là thời đoạn mong manh, nhạy cảm, dễ gặp rủi ro bậc nhất. Nó sẽ chịu tác động rất mạnh từ cú “hạ cánh” của Trung Quốc.

Vấn đề đặt ra cho Việt Nam, theo ông Thiên, là làm sao để giảm thiểu tác động gây “sốc” từ cú “hạ cánh” của nền kinh tế Trung Quốc; và phải nhanh chóng thoát khỏi sự lệ thuộc cơ cấu vào nền kinh tế Trung Quốc.

Bên cạnh đó, việc Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) đi vào vận hành; biến đổi khí hậu, nước biển dâng và cuộc tranh chấp nước sông Mêkong, điều kiện sản xuất và sinh sống cơ bản của Việt Nam đang thay đổi rất mạnh mẽ và sâu sắc, nhất là ở vùng ven biển, vùng Tây Nam bộ và Tây Nguyên. Đây cũng là yếu tố quy định chiến lược phát triển quốc gia trong giai đoạn tới.

"Tuy nhiên, việc giải quyết vấn đề này như thế nào ở tầm chiến lược hầu như còn chưa được đặt ra", ông nói.

Tất cả những điều nói trên đều hàm nghĩa sự cần thiết phải tư duy lại vấn đề tái cơ cấu và đổi mới mô hình tăng trưởng.

“Đó phải là một sự thay đổi tư duy phát triển triệt để, theo logic của một cuộc Đổi mới lần hai, được dẫn dắt bởi một tầm nhìn phát triển mới, tầm nhìn thời đại, bảo đảm nền kinh tế thoát khỏi lệ thuộc bên ngoài và nhập được vào đội hình bay – hội nhập mới”, ông nói.