9 tháng đầu năm nay, cả nước có gần 81.500 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 19,2% về số doanh nghiệp so với cùng kỳ năm 2015. Theo ông Nguyễn Trần Bạt, Chủ tịch InvestConsult Group Thủ tướng muốn thúc tất cả mọi người có khả năng thì xông vào kinh doanh, bởi vì chúng ta thiếu các lực lượng làm ăn.

Ong Nguyen Tran Bat: 'Thu tuong muon thuc tat ca moi nguoi xong vao kinh doanh' - Anh 1

LTS: Nhân ngày Doanh nhân Việt Nam 13/10, BizLIVE đã thực hiện một chuỗi bài phỏng vấn các doanh nhân để lắng nghe những chia sẻ, góc nhìn của họ về các chính sách của Nhà nước với cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, cũng như nói lên tâm tư, suy nghĩ nhân ngày tôn vinh cộng đồng doanh nhân Việt.

Thống kê 9 tháng đầu năm cho thấy, cả nước có gần 81.500 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, số doanh nghiệp tăng 19,2%, số vốn đăng ký tăng khoảng 49,5% so với cùng kỳ năm 2015. Bình quân số vốn đăng ký đạt khoảng 7,6 tỷ đồng cho một doanh nghiệp, tăng khoảng 25,4%. Ông bình luận gì về những con số này, phải chăng đây là thành quả của những khung khổ pháp lý mới cùng các giải pháp của Chính phủ trong việc hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp phát triển?

Đối với tôi các con số thực ra không hấp dẫn, bởi vì nó không mô tả được ý nghĩ thật sự của các nhà lãnh đạo hay của Chính phủ. Mở đầu nhiệm kỳ mới, đất nước đứng trước một thực trạng kinh tế vô cùng khó khăn. Kinh nghiệm của người hoạt động quản lý nhà nước lâu năm làm cho ông nhận ra vai trò của doanh nhân, vai trò của các khu vực khác nhau của nền kinh tế trong việc ra khỏi những khó khăn hiện nay như thế nào.

Tại sao lại có những con số thống kê như vậy? Những con số mô tả ý nghĩ thật của Thủ tướng hay của Chính phủ? Bây giờ có lẽ cần phải mô tả để mọi người hiểu rằng Chính phủ và Thủ tướng là một khối thống nhất. Khi Thủ tướng gắn liền với Chính phủ hiệu quả của quản lý nhà nước tăng lên rất nhiều, không còn thấy thấp thoáng các kế hoạch, các ý đồ cá nhân.

Các con số mà báo chí hoặc các cơ quan chức năng đưa ra thống kê phải mô tả cho xã hội thấy được ý nghĩ bên trong, động cơ bên trong của Thủ tướng Chính phủ . Thủ tướng muốn thúc tất cả mọi người có thể kinh doanh, xông vào kinh doanh, bởi vì chúng ta thiếu các lực lượng làm ăn.

Con số gần 81.500 doanh nghiệp mới thành lập mô tả khát vọng kinh doanh của xã hội và mô tả khát vọng của Thủ tướng Chính phủ về việc xuất hiện nhiều người làm kinh doanh trong xã hội, ông ấy muốn có một lực lượng doanh nhân càng đông càng tốt, vì nó chính là những biểu hiện sống của một xã hội xét về mặt kinh tế.

Tôi là một người bi quan và luôn luôn thận trọng trước các phân tích chính sách, phân tích thực trạng xã hội, tuy nhiên tôi không cảm thấy bế tắc giống như nhiều người khi phân tích tình trạng Việt Nam. Tôi thấy thực ra sự đúng đắn và chân thật trong các chính sách vĩ mô là nguồn động lực cơ bản.

Đôi khi chúng ta nói khu vực tư nhân như là động lực, nhưng tôi không nghĩ như thế, bởi kinh tế là một khái niệm vô cùng phức tạp và phải phân tích nó thực sự thì người ta mới thấy được động lực nó nằm ở đâu. Ở đây chúng ta nói một cách định tính và hoàn toàn không có phân tích khoa học về các điểm đột phá nằm trong chuỗi ADN của khu vực tư nhân. Như thế nghĩa là gì? Tư nhân là biểu hiện năng động của quyền định đoạt do yếu tố sở hữu, hay tư nhân là một liên minh rộng lớn của xã hội?

Khi phân tích khu vực tư nhân phải phân tích đầy đủ tất cả các yếu tố cấu thành giá trị của nó, do đó mới biết được giá trị động lực đối với nền kinh tế của khu vực tư nhân nằm ở điểm nào trong cấu trúc của nó. Hiện nay chúng ta nói chung chung. Có ý kiến nói rằng nếu đến thời điểm này chúng ta cứ nói về câu chuyện kinh tế tư nhân là động lực thì thế giới sẽ cười. Anh ấy không hiểu rằng thế giới làm gì có thì giờ để cười chúng ta. Ở đâu trên thế giới này cũng có vấn đề của nó.

Vậy thì động lực của khu vực tư nhân nằm ở chỗ nào? Nhiều người tin rằng động lực nằm ở chỗ nó tự bỏ tiền ra nhưng thực tế không phải thế. Cả tư nhân và nhà nước đều sử dụng nguồn năng lượng tài chính của xã hội. Bát súp của tư nhân hay của nhà nước đều múc trong một cái nồi, đó là dự trữ tài chính của xã hội. Ở đâu dùng có hiệu quả thì ở đấy tích cực không phải là cứ tư nhân thì sử dụng tích cực. Có những dự án có sức phá hoại ghê gớm bắt đầu hình thành từ khu vực tư nhân. Hiệu quả kinh doanh cho công ty thì rất lớn còn hiệu quả tàn phá xã hội thì cũng không hề bé.

Vậy đánh giá khu vực tư nhân là đánh giá cái gì? Đánh giá về khả năng sử dụng đồng vốn có hiệu quả hay đánh giá tính tự lập? Hơn nữa, liệu có bao nhiêu phần trăm vốn liếng được sử dụng trong khu vực tư nhân? Nhà nước không đầu tư thì làm gì có tiền cho các công ty tư nhân. Nhà nước đầu tư thì nợ công tăng và nhà nước phải chịu trách nhiệm về an toàn nợ công.

Không thể tìm giải pháp trong việc phê phán các nguyên lý kinh tế xã hội chung chung, chúng ta phân tích nguồn vốn từ xã hội được huy động để sử dụng trong khu vực tư nhân hoặc khu vực nhà nước cái nào tốt hơn, tốt hơn ở điểm nào, hoặc xấu hơn cho những mục đích cụ thể nào.

Khu vực tư nhân vừa và nhỏ lại khác, nó tự huy động vốn, nó không có công cụ ngân hàng, nó không đi qua các liên kết với các đối tượng tài chính. Nguồn vốn của nó không phải là nợ mà được huy động trong dân. Nó có những giá trị động lực thật, nhưng động lực trong một giới hạn nào đó không phải trong toàn bộ sự phát triển của nền kinh tế.

Tính đột phá không có ở trong các xí nghiệp vừa và nhỏ. Các dự án lớn, các đại công ty tư nhân mới có năng lực đột phá, nhưng sự đột phá của nó nếu không được kiểm soát sẽ tạo ra sự hủy hoại đối với nền kinh tế. Điều đó trên thực tế đã xảy ra.

Ông nhận xét như thế nào về thế hệ doanh nhân Việt Nam hiện nay, so sánh với thế hệ doanh nhân hiện tại và giữa doanh nhân Việt Nam với doanh nhân nước ngoài?

Phải nói rằng các thế hệ doanh nhân hiện nay đã phát triển một cách đột biến về năng lực. Tôi chưa biết họ đúng sai cụ thể trong từng vấn đề điều hành, trong từng vấn đề hạch toán xí nghiệp, nhưng quy mô của các dự án, trí tưởng tượng của các tổng giám đốc, các chủ tịch, sự dũng cảm xông vào các đại dự án là một bước phát triển có chất lượng đột phá của thế hệ doanh nhân hiện nay.

Chúng ta biết rằng khu vực kinh tế nhà nước có vấn đề của nó. Sau một loạt các thất bại của Chính phủ ở nhiệm kỳ trước trong việc điều hành khu vực kinh tế nhà nước, chúng ta bỗng nhiên thấy xuất hiện các đại công ty tư nhân. Sự xuất hiện của các đại công ty này an ủi Thủ tướng Chính phủ về năng lực kinh tế của xã hội. Chúng ta có quyền phấn khởi, lạc quan về sự phát triển đột phá của năng lực của các khu vực kinh tế, đặc biệt là khu vực tư nhân.

Có hai giới hạn để phân biệt khu vực tư nhân. Thứ nhất là các xí nghiệp nhỏ nghĩa vụ cơ bản của khu vực vừa và nhỏ là giải quyết công ăn việc làm cho xã hội. Đây không chỉ là vấn đề chính trị mà còn là vấn đề phát triển, bởi vì có việc làm là có tiền lương, có đóng thuế và cấu thành một trong các nguồn thu ngân sách tuy khiêm tốn, nhưng chắc chắn. Phải nhớ rằng công ăn việc làm được giải quyết bởi các công ty vừa và nhỏ với các khoản thuế suất thấp.

Thứ hai là các xí nghiệp lớn. Trong khi các đại công ty của chính phủ đang lúng túng trong cuộc khủng hoảng 10 năm vừa rồi, thì những xí nghiệp tư nhân lớn đã bắt đầu giữ các địa vị như những cột chống đối với các trạng thái khó khăn của nền kinh tế. Ít nhất nó làm cho nền kinh tế của chúng ta không hoang vắng.

Cũng có một số biểu hiện có thể trở thành tiêu cực trong một vài năm nữa, nhưng ít nhất trong trạng thái của 10 năm vừa rồi nó đã chống đỡ cho nền kinh tế. Gần đây có một vài công ty nào đó mà dư luận cứ thảo luận mãi về việc nó có phá sản không, có nên cứu nó không.

Những người bình luận như vậy không hiểu rằng chính những đối tượng ấy là những yếu tố trụ lại được trong sự thoái hóa của nền kinh tế Việt Nam giai đoạn vừa rồi, giờ phải làm thế nào để nó không vỡ, không gãy, không đổ. Bởi vì nó càng lớn bao nhiêu thì địa vị của nó trong nền kinh tế càng lớn bấy nhiêu.

Các nhà khoa học vũ trụ tìm các giải pháp để bắn phá các thiên thạch sao cho nó không rơi vào trái đất, không gây tổn hại cho trái đất. Chúng ta cũng phải tìm cách che đỡ các công ty lớn sau một chu trình phát triển của nó. Phải xem vấn đề đổ vỡ, vấn đề phá sản của các doanh nghiệp lớn như một biểu hiện có tính chất chu kỳ của sự phát triển. Nếu không có những cố gắng như vậy của các doanh nghiệp lớn thì không có bước đột phá của nền kinh tế Việt Nam và người ta không biết Việt Nam là ai.

Chúng ta không có địa vị gì lắm trên thế giới nếu chúng ta không có hàng hóa đưa ra thế giới. Tôi từng đi khắp phố Broadway ở NewYork, đến San Francisco vào các siêu thị để tìm hàng hóa, cố gắng tìm xem có hàng gì của Việt Nam không mà hiếm khi thấy. Bây giờ chúng ta phải cố gắng để hàng hóa Việt Nam có mặt trên thị trường thế giới, đặc biệt là phải có mặt ở Trung Quốc.

Chúng ta cứ đi tìm những thị trường xa xôi, nhưng thị trường ngay sát nách chúng ta cũng không có. Trung Quốc là một thị trường khổng lồ, là một công xưởng khổng lồ về các sản phẩm nông nghiệp. Quanh đi quẩn lại, chiếm toàn bộ thời gian nói về các sản phẩm nông sản Việt Nam là thanh long và vải thiều. Chúng ta không có một cấu trúc, không thiết kế một cấu trúc các sản phẩm nông nghiệp để mô tả về trạng thái nông nghiệp của nền kinh tế Việt Nam.

Nhân dịp ngày bạn nói với chúng tôi, những người kinh doanh là ngày thương nhân Việt Nam thì tôi nói rằng, có lẽ tư tưởng Chính phủ kiến tạo mà thủ tướng đã phát biểu chính là Chính phủ thiết kế ra một cấu trúc sản phẩm cho các khu vực kinh tế khác nhau của Việt Nam, bằng các công cụ nghiên cứu mà chính phủ có, bằng kinh phí Chính phủ bỏ ra.

Đây chính là hoạt động kiến tạo quan trọng nhất, từ đó tiếp tục kiến tạo cái thứ hai là thể chế. Thể chế không nói chung chung cho thương nhân mà thể chế cho sản phẩm. Chúng ta mới nói đến thể chế cho thương nhân với tư tưởng con người là trung tâm. Tuy nhiên, con người chỉ có giá trị khi nó tạo ra sản phẩm, cho nên thể chế không phải chỉ cho con người, cho thương nhân mà thể chế còn phải gắn liền với sản phẩm, tức là thể chế cho sản phẩm...

Nguyễn Thảo