Ca dao từng đúc kết “Ở đời có bốn cái ngu/Làm mai, nhận nợ, gác cu, cầm chầu”.

O doi co bon cai ngu: Ban chuyen cai ngu lon nhat - Anh 1

Shutterstock

“Cầm chầu” tức là ngồi trước cái trống chầu, đánh trống để khen chê đào kép trong đêm hát bội - một thú chơi tốn tiền.

“Gác cu” tức là dùng đồ nghề - trong đó có con cu mồi, đi nhử cu trong lùm bụi, thú chơi dễ gặp nguy hiểm. “Nhận nợ” tức là đứng tên mình để đi mượn tiền giùm cho người khác…

“Làm mai” được xếp lên đầu tiên, được coi là cái ngu lớn nhất, có nghĩa là người nào làm “nghiệp vụ” này được xem là người ngu nhất. Ấy vậy mà từ ngàn xưa, việc làm mai mối trong hôn nhân được coi là một nghề, người làm mai mối được coi là người quan trọng giúp nối kết hai gia đình, hai đối tượng nam nữ lại để tiến đến hôn nhân.

Tiếng Hoa gọi người làm mai là băng nhân; tiếng Pháp gọi là entremetteur. Nói theo ngôn ngữ hiện nay, làm mai cũng là một nghề cò - cò hôn nhân.

Làng xóm ngày xưa có những người có kiến thức, ăn nói có duyên. Họ chọn cái nghề nhẹ nhàng nhất, chỉ tốn một tí nước bọt để thuyết phục nhà này chọn anh kia làm rể, nhà kia chọn cô nọ làm dâu. Làm mối được cho vài cặp cưới nhau, họ được làng xóm tin tưởng. Nhà nào muốn cưới vợ cho con trai, sau khi “chấm” đối tượng nữ là cô gái nào đó bèn tìm đến người mai mối để nhờ đi thăm dò, thuyết phục, kết nối.

“Hợp đồng” giữa nhà trai với người mai mối đơn giản chỉ là hợp đồng miệng, chẳng ai nghĩ đến việc viết giấy tờ. Đại để gia đình nhà trai nói với người làm mai rằng mình có thằng con trai tuổi Thìn, khỏe mạnh, làm nông, muốn cưới cô con gái tuổi Ngọ của gia đình kia, xin nhờ ông (bà) mai kết nối giùm.

Để tiện việc đi lại, gia đình xin gửi ông (bà) mai tí tiền vài chục đồng trà nước. Có những gia đình nghèo không gửi trước được tí tiền nào cả nhưng “nghiệp vụ” làm mai thì cứ nhận tất cả các vụ mai mối trên đời, kể cả những vụ hóc búa hay khó khăn nhất như trai quá xấu nữ quá đẹp, nữ học giỏi trai học dở, cha của trai ăn chơi bạt mạng trong khi cha của nữ chí thú làm ăn…

Nhận lời với nhà trai xong, người mai mối sẽ chọn ngày tốt sang thăm nhà đàng gái. Sau mấy câu khách sáo, thuyết khách sẽ đi vào vấn đề, khoe ra người con trai nhà ấy khỏe mạnh, học hành đến đâu, tính tình thế nào, tài sản sẽ có thể có những gì, gia đình phước đức ra sao, mong được đến “coi mắt” cô gái…

Gia đình bên gái sẽ nói lời cám ơn bên trai nhưng xin có thời gian để hỏi lại ý kiến của mọi người trong nhà, ý kiến của cô gái ra sao rồi mới dám trả lời. Gia đình bên gái có thể cho người mai mối một cuộc hẹn sau đó.

Thuyết khách sẽ trở về báo cáo lại nội dung gặp gỡ gia đình bên gái, thêm thắt đủ điều về chuyện cha mẹ cô gái nói năng lịch sự ra sao, nhà cửa quy mô cỡ nào, phỏng đoán việc kết thông gia có thành công rực rỡ hay không.

Ở đời có những nhân vật mang tiếng “bùi lan” tức là… bàn lui nhưng kỹ năng làm mai mối thì phải ngược lại, tức là cứ bàn tới. Những người mai mối thấy cái gì cũng đẹp: chàng trai tuy nói cà lăm một chút nhưng tính tình rất thiệt thà; cô gái tuy thấp người một chút nhưng rất đảm đang...

Vài ba tuần hay một tháng sau, người mai mối sẽ nhận được thông tin từ nhà gái. Thông tin thì chỉ có “được” hay “không” nhưng phần lớn vẫn là được. Có khi nhà gái âm thầm tìm hiểu đến… ba đời của nhà trai, khám phá ra rằng ông nội của nó ngày xưa đã từng lấy hai vợ hoặc bà nội của nó ngày xưa hỗn hào nổi tiếng trong làng - khi đó người mai mối chỉ nhận được một chữ “không”, cuộc thương thuyết coi như lột dên.

Ngược lại, trường hợp nhà gái bảo là “được” thì người mai mối sẽ đi sang nhà gái vài ba lần nữa. Nhà gái và người mai mối sẽ lên một cái lịch: ngày nào nhà trai chính thức qua thăm nhà “coi mắt”, ngày nào bỏ trầu cau dạm hỏi, ngày nào cưới.

Trong giai đoạn này, người mai mối sẽ làm công việc của một vị ngoại trưởng con thoi, nghĩa là sẽ… xúi giục cho đôi bên tiến hành suôn sẻ các mốc thời gian đã được định. Trong khi hai gia đình tích cực tìm đến các vị thầy bói, nghe thầy phán để tiến hành nghi lễ thì người mai mối lại tích cực lắng nghe và hóa giải những đòi hỏi quá đáng của bên nhà gái.

Thí dụ lễ hỏi sẽ giản dị chỉ làm một con heo, nhà trai sẽ qua chục người; lễ cưới sẽ hoành tráng nhưng… tiết kiệm; nhà trai sẽ đi tiền mặt bao nhiêu, vàng bạc cho con dâu sẽ là những gì… Nhiệm vụ cò kè lên xuống không thuộc cha mẹ bên trai nữa mà thuộc nghệ thuật cò kè của người mai mối.

Rồi lễ cưới cũng diễn ra và người mai mối trở thành một nhân vật… siêu chủ lễ. Ông (bà) mai mối sẽ chuẩn bị sẵn một cái miệng để ăn nói cho thật có duyên, một cái bụng thật tốt để ăn tiệc cưới của cả hai bên. Dâu rể, nhà trai nhà gái có khi không dám cười nhưng người mai mối có quyền mở hết khẩu độ cười ha hả.

Cưới hỏi xong, người mai mối an tâm về nhà, chờ đợi thu hoạch. Thông thường sau lễ cưới, nhà trai sẽ mang cái đầu heo hoặc một khoanh thịt nọng ở cổ heo qua kính biếu người mai mối. Một vài năm sau nếu đôi lứa sinh con đầu lòng thì người mai mối cũng được mời đến ăn đầy tháng hay thôi nôi mà không phải đem quà mừng.

Việc mời mọc ăn uống đó chỉ diễn ra được một vài lần rồi cả trai gái đều quên tuốt hình ảnh ông (bà) mai. Chuyện “qua sông rồi đạp gãy cầu” cũng là chuyện bình thường trong thiên hạ.

Tuy nhiên, trong cuộc sống có những lứa đôi “trục trặc”. Lứa đôi ăn ở không hợp tính nhau; anh chồng vũ phu hay đánh vợ; chị vợ chỉ đợi chồng đi vắng là đi đánh bài; nhà dột cột xiêu; chuồng heo sụp đổ. Lứa đôi bắt đầu gấu ó nhau, người này chửi người kia, anh chồng chửi tới gia đình bên vợ, chị vợ chửi qua gia đình bên chồng.

Thế nhưng, đối tượng tốt nhất để họ phát tiết cơn nóng giận là… người làm mai mối. Họ đem ông (bà) mai ra chửi xối xả, thậm chí đến trước nhà mà phóng thanh. Câu cú, văn chương cứ tuôn ra ào ào như nước lũ mà chữ nghĩa thì ít thấy trong từ điển tiếng Việt của chúng ta.

Đại để, cả chồng và vợ đều có quyền lên án ông (bà) mai ăn nói lật lọng; con người tệ hại, bất nhơn sát đức như vậy mà cứ xúi giục họ lấy làm chồng (làm vợ) để đời họ đau khổ, tủi nhục, ngóc đầu không nổi. Đôi bên gia đình đau xót vì nhân duyên của con mình lỡ dở, cũng lên tiếng thóa mạ ông (bà) mai mối làm mai chẳng ra gì. Tiếng lành đồn xa nhưng tiếng dữ đồn ba ngày đường; nghiệp vụ mai mối nát bét năm bảy tầng, uy tín làm mai bị tổn thương nghiêm trọng.

Tóm lại, nghiệp vụ mai mối dù chỉ tốn một ít nước bọt nhưng công sức thì có vẻ nhiều, phần “thù lao” chẳng được bao nhiêu và lắm trường hợp bị chửi xối xả, bị cả dâu rể và gia đình đôi bên “ném đá” đến hoa lá tả tơi. Vì vậy, cha ông ta mới xếp cái ngu làm mai lên đứng đầu bốn cái ngu của thiên hạ.

Hôn nhân ngày nay tiến bộ và được hiện đại hóa rộng khắp. Trai gái thương yêu nhau có quyền thưa với cha mẹ đôi bên để kết hôn mà không cần thông qua trung gian mai mối. Nghiệp vụ làm mai có vẻ xuống cấp nhưng không có nghĩa là cáo chung hẳn.

Vùng nông thôn vẫn còn những người mai mối cho các lứa đôi nhưng ông (bà) mai trong thời đại ta ít bị chửi như ông (bà) mai ngày xưa. Tại sao vậy? Trai gái quen nhau, thương nhau, đôi khi “ứng trước” cho nhau rồi mới cưới. Mai mối chỉ là bước đến sau, hợp thức hóa cái đã rồi; nếu tình duyên họ “very bad” (thậm tệ) thì họ cũng không còn cao hứng để chửi ông (bà) mai mối.

Vũ Đức Sao Biển