(ANTĐ) - Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn (NS&VSMTNT) đã triển khai qua 2 giai đoạn, với những kết quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên, theo đánh giá, chiếm tỷ lệ không nhỏ người dân ở khu vực nông thôn hiện vẫn khát nước sạch và ô nhiễm môi trường sống nghiêm trọng.

Thống kê của Bộ NN&PTNT cho thấy, hiện chỉ có 30% nước sinh hoạt ở nông thôn đạt tiêu chuẩn nước sạch do Bộ Y tế đưa ra. Theo đó, chỉ 15,6% các hộ gia đình sống ở nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt đúng tiêu chuẩn về vi sinh. Trong đó, 2 khu vực lớn tập trung đông dân cư là ĐBSH và ĐBSCL, nước ngầm bị nhiễm Arsen với nồng độ khá lớn, trong khi, nước ở khu vực miền Trung lại bị nhiễm Fluor. Theo đánh giá của Bộ NN&PTNT, vệ sinh môi trường không đảm bảo là một trong những nguyên nhân chính gây ô nhiễm nước ở nông thôn Việt Nam. Bởi vậy, để nâng cao chất lượng nước sinh hoạt điều đầu tiền cần làm là làm tốt công tác vệ sinh môi trường. Bên cạnh đó, theo ước tính của UNICEF, có khoảng 2,8 triệu trong tổng số 18 triệu trẻ em ở nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế. Các tỉnh miển núi, Tây Nguyên và ĐBSCL là những vùng mà trẻ em ít có cơ hội để sử dụng nước hợp vệ sinh. Thống kê của tổ chức này cho hay, trung bình mỗi năm, trên thế giới có khoảng 1,8 triệu trẻ em chết vì bệnh tiêu chảy. Chất lượng nước và vệ sinh môi trường chính là nguyên nhân của 80% số ca tử vong do tiêu chảy. Tại Việt Nam, vào năm 2008, nước và vệ sinh môi trường không đảm bảo đã cướp đi sinh mạng của hơn 20.000 người. Trong số đó, chiếm đến hơn 50% số ca tử vong là do các bệnh liên quan đến tiêu chảy. Ở Việt Nam, cứ một trong ba phụ nữ mang thai (32%) và một trong 3 trẻ em dưới năm tuổi (khoảng 27% hoặc 2,1 triệu trẻ em) có mắc các chứng bệnh liên quan đến tiêu chảy. UNICEF nhận định, môi trường ô nhiễm và nước không đảm bảo vệ sinh đã trở thành gánh nặng cho người dân sống ở nông thôn. Đó cũng là những gì đang xảy ra với các hộ gia đình nghèo ở khu vực thành thị, đặc biệt là các gia đình nghèo mới chuyển từ nông thôn tới. Ông Nguyễn Văn Thư - Giám đốc Trung tâm NS&VSMTNT Hà Nam cho biết, Hà Nam chịu ảnh hưởng của chất lượng nước lưu vực sông Nhuệ - Đáy. Ngoài ra, toàn tỉnh còn có 3 KCN đang hoạt động, 106 làng nghề, các cơ sở sản xuất nhỏ ngoài khu vực công nghiệp. Kết quả quan trắc cho thấy, nước sông bị ô nhiễm, chủ yếu bởi các chất hữu cơ, chất rắn lơ lửng, mùi hôi, độ màu và vi khuẩn, mức độ ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng vào mùa khô. Trong khi đó, chất lượng nước ngầm trong phạm vi toàn tỉnh phần lớn đã bị ô nhiễm nặng nề bởi Arsen, Amoni, sắt và Coliform. Cũng theo ông Thư, cả tỉnh hiện có 52 công trình cấp nước sạch tập trung nông thôn, nhưng trong quá trình sử dụng đã bị xuống cấp, thiếu cán bộ vận hành có trình độ, một số trạm nước không đảm bảo, người dân sử dụng ngày càng ít, đang có nguy cơ đóng cửa. Còn các công trình nhỏ lẻ chủ yếu là công trình khai thác nước ngầm, lỗ khoan khai thác có chiều sâu không lớn và cũng không ai quản lý, giám sát. Để nâng cao chất lượng nước sinh hoạt cho người dân nông thôn, đặc biệt là trẻ em, Bộ NN&PTNT đã xây dựng đề án quản lý chất lượng nước sinh hoạt nông thôn, đồng thời xây dựng chương trình mục tiêu quốc gia về NS&VSMTNT giai đoạn 3 từ năm 2011-2020. Mục tiêu của chương trình đến năm 2020 là 100% dân cư khu vực nông thôn được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế. Tuy nhiên, ông Luân cũng cho rằng, trong các giai đoạn trước đó, giai đoạn hậu kiểm các công trình nước sạch nông thôn ở nhiều địa phương còn chưa tốt, nên xảy ra tình trạng lãng phí do công trình kém hiệu quả. Ông Luân lấy ví dụ, ở Hà Nam, nhiều năm qua thường triển khai theo mô hình, Nhà nước xây dựng rồi giao cho chính quyền địa phương, chính quyền lại giao cho tổ chức xã hội quản lý, chuyên môn không có, công trình để xuống cấp rồi bỏ không. Theo ông Luân, mô hình doanh nghiệp tham gia vào đầu tư công trình nước sạch nông thôn rất phù hợp, trong đó, Nhà nước cấp 45%, dân đóng góp 10%, còn lại vốn của doanh nghiệp nên hoạt động hiệu quả.