Khi nguồn tăng trưởng từ thuốc trừ sâu và hóa chất đang dần chững lại, nông nghiệp sinh học nổi lên như một phương pháp tối ưu giúp người nông dân bớt khổ và phân phối lại các giá trị đã bị đảo lộn trong quá trình công nghiệp hóa của con người.

Luôn tự hào là một nước hàng đầu về xuất khẩu gạo, nhưng tại buổi Hội thảo “Tương lai của nền nông nghiệp sinh học Việt Nam” diễn ra ngày 25/10/2016 ở Hà Nội, những mặt trái của thành tích đẹp đẽ đã bị bóc trần để rồi ta phải giật mình đặt câu hỏi: Chúng ta đang công nghiệp hóa cái gì vậy?

Tiến sĩ Đào Thế Anh - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Hệ thống Nông nghiệp (CASRAD) – cho biết: Mặc dù sản lượng vẫn tăng qua các năm, nhưng giá trị và năng suất lúa gạo Việt lại đang có xu hướng giảm. Sản lượng xuất khẩu gạo năm 2015 tăng so với cùng kỳ song giá trị giảm từ 2,93 tỷ USD xuống 2,68 tỷ USD do giá giảm.

Đáng nói, để có được thành tích khiêm tốn này, chúng ta đã hy sinh quá nhiều, đặc biệt là môi trường. Theo số liệu của FAO, lượng sử dụng phân bón hóa học của Việt Nam trên một ha trồng lúa (năm 2013) còn cao hơn cả Trung Quốc, đất nước luôn bị gắn liền với nỗi lo sợ sản phẩm độc hại. Nhập khẩu thuốc bảo vệ thực vật tăng qua các năm. Các hóa chất dùng trong nông nghiệp tăng gấp 10 lần so với cách đây 30 năm, 50% là từ Trung Quốc, phần nhiều không rõ nguồn gốc. An ninh tài nguyên nước xét trong khu vực Đông Nam Á chỉ đứng trên Campuchia. Gần 1.000 cảnh báo trả lại hàng từ châu Âu trong giai đoạn 2005-2015 vì sản phẩm có chứa các hóa chất độc hại.

Để đối phó với các vấn đề bởi ngành kinh doanh nông nghiệp, bao gồm ô nhiễm, giá lương thực tăng, đất “vô sinh” và các vấn đề sức khỏe, nông nghiệp sinh thái nổi lên như cuộc hôn phối giữa khoa học, nông nghiệp truyền thống và phong trào xã hội.

Nông nghiệp sinh thái về cơ bản là khoa học dựa trên sự tương tác giữa sinh vật và môi trường. Có nguồn gốc từ những năm 1930, nhưng gần đây mới trở thành khoa học đi vào thực tiễn xã hội, được tôn vinh là “một lần nữa trao quyền cho người dân, tạo ra cơ hội kinh tế và công bằng, góp phần phục hồi và bảo vệ các hệ thống hỗ trợ sự sống trên hành tinh.”

Nong nghiep sinh hoc: “Tin xau” cho thuoc tru sau va ngheo doi o Viet Nam - Anh 1

Có người sẽ đặt câu hỏi: Nếu nó tuyệt diệu như vậy, vì sao không có nhiều người Việt làm điều đó? Tại sao tôi chẳng mấy khi nghe nói đến nó?

Thực vậy, nông nghiệp sinh thái ở Việt Nam chủ yếu vẫn ở dạng tự phát, niềm đam mê của một bộ phận tự giễu mình là “người điên”, bám lấy mảnh đất bị xã hội coi là biểu tượng của nghèo khó và thấp kém. Đó là chàng trai Võ Văn Tiếng ở Đồng Tháp với gạo sạch Tâm Việt, Nguyễn Thịnh với Sữa Mục Đồng, Hoàng Văn Hưng với rau hữu cơ Bái Thượng, Nguyễn Ngọc Quỳnh với Chính Nấm… Nhưng họ biết điều bị thờ ơ: sản xuất thông thường là không bền vững, chúng ta ăn quanh năm nhưng không được bảo vệ. Nông nghiệp sinh thái sẽ phục hồi lại các giá trị đã và đang biến mất. Quan trọng là, con cháu ta sẽ được ăn “sạch”, ăn an toàn.

Theo bà Từ Thị Tuyết Nhung - Trưởng ban điều phối PGS (Participatory Guarantee System) Việt Nam, mọi người lầm tưởng nông nghiệp sinh thái là điều gì đó rất cao siêu, đòi hỏi công nghệ lớn và chi phí cao. Ca sĩ Mỹ Linh từng chỉ trích chúng ta không chịu bỏ tiền to mà cứ đòi “ăn sạch”. Đó là quan điểm sai lầm.

Nông nghiệp sinh thái phủ nhận quan điểm phải “bẩn” (tức là cần dùng hóa chất) thì mới đảm bảo an ninh lương thực. Cuộc Cách mạng xanh (trọng tâm phát triển nông nghiệp trên nền hóa chất) không đảm bảo lương thực thực phẩm phong phú và an toàn cho tất cả mọi người. Khi xuất khẩu ngày càng tăng, biến đổi gen ngày càng nhiều, vẫn có ít nhất hơn 1 tỷ người trên hành tinh sống lay lắt trong cái đói. 78% trẻ suy dinh dưỡng sống ở các nước đang phát triển có thặng dư về lương thực thực phẩm.

Con người đói không phải vì thiếu cái ăn, mà là người nghèo không thể tiếp cận cái ăn. Cách mạng xanh dạy chúng ta phải tích tụ thành quy mô lớn mới có thể xóa đói và phát triển. Hậu quả là, nhiều hộ nhỏ bị mất đất, những hộ tiếp tục làm nghề nông không được chú ý đến. Trong khi nông nghiệp sinh thái không giới hạn quy mô hay tầng lớp. Ngược lại, kiến thức sinh thái đã được bắt đầu từ sản xuất địa phương và tập quán truyền thống. Chỉ có điều, thiếu quy trình khép kín để tận dụng tối đa nguồn lực và giảm chi phí.

Trong hệ thống giá trị nông nghiệp “phun thuốc”, nông dân nằm dưới đáy của chuỗi giá trị, dù là nội địa hay xuất khẩu. Theo tính toán của CASRAD, lợi nhuận trên mỗi hộ nông dân trồng lúa là thấp nhất (300 USD/năm), cao nhất là người bán sỉ nội địa (52.900 USD/năm) và nhà xuất khẩu (2,5 triệu USD/năm), do có hơn 1,46 triệu hộ trồng lúa nhưng chỉ có vài đầu mối bán sỉ và xuất khẩu.

Nay, khi nông nghiệp sinh thái được nâng tầm thành khoa học, nó mang lại cơ hội cho tất cả, kể cả những con côn trùng bị xem nhẹ. Nó trao quyền cho người nghèo chí ít có thể tự nuôi sống bản thân. Theo tính toán của SCAR (Ủy ban nghiên cứu về nông nghiệp của EU), chỉ cần áp dụng đúng, nông nghiệp sinh thái hoàn toàn có thể nuôi toàn bộ dân số ước tính 9 tỷ người vào năm 2025. Thực tế, đã có những startup hữu cơ chứng minh được rằng: Con người có thể “ăn sạch” với giá cả không cao đến thế. Back2basics , Thrive Market , Hip Chick Farms … là những ví dụ điển hình. Bởi lẽ: Nông nghiệp sinh thái thực tế rất đơn giản. Thứ gì đơn giản đều có thể rẻ.

Nong nghiep sinh hoc: “Tin xau” cho thuoc tru sau va ngheo doi o Viet Nam - Anh 2

Nhưng có vấn đề không đơn giản: Nông nghiệp sinh thái xuất hiện trở lại trong bối cảnh khi con người đã tàn phá nặng nề môi trường sống của mình trong cuộc cách mạng công nghiệp (vẫn diễn ra đến hôm nay). Trong khi đó, để “sinh thái”, từ chất lượng đất, nước, không khí… đến hàm lượng các chất trong sản phẩm phải đảm bảo các tiêu chuẩn đề ra. Đây là nguyên nhân chủ yếu khiến nhiều nông dân chùn bước, còn người tiêu dùng phải trả giá cao để được ăn sạch, thứ quyền lợi tưởng như điều hiển nhiên.

Giống như bất cứ điều gì, nông nghiệp sinh thái là không có thuốc chữa bách bệnh. Nhưng nó có thể là một phần của giải pháp. Nó cung cấp chính xác điều mà xã hội “hiện đại” đang thiếu. Và, nhìn qua thì tưởng phức tạp, song các nguyên tắc không phải quá khó để nắm bắt. Chỉ là, chúng ta có thay đổi được tư duy đã bị phun thuốc hay không. Hiện, những cá nhân, tổ chức đơn lẻ vẫn đang phải “điên” để thay đổi sự vắng bóng của nông nghiệp hữu cơ trong các chiến lược phát triển đất nước.

Xem thêm:

Lạm dụng kháng sinh trong nông nghiệp: chết vì ăn

Thực phẩm bẩn – lỗi không chỉ ở người nông dân

Dùng kháng sinh trong chăn nuôi là hành động tự sát

Lục Kiếm