Giá thành cao, nhu cầu tiêu thụ ngày một gia tăng, dễ thấy các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ (NNHC) còn khá nhiều dư địa để phát triển. Tuy nhiên, hàng loạt rào cản đã và đang tồn tại khiến cho loại hình sản phẩm này chưa thể bứt phá.

Nong nghiep huu co: Rao can lan at co hoi? - Anh 1

Các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ ngày càng được nhiều người tiêu dùng quan tâm. Ảnh: NGUYỄN THANH.

Thênh thang thị trường…

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): NNHC là hệ thống canh tác và chăn nuôi tự nhiên, không sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu, diệt cỏ, thuốc bảo quản… Vì sản xuất theo cách tự nhiên nên nền NNHC được cho là lành mạnh, giúp giữ độ phì nhiêu của đất, bảo vệ nguồn nước và giảm thiểu ô nhiễm môi trường cũng như bảo đảm sức khỏe cho con người, vật nuôi, cây trồng.

Theo Hiệp hội NNHC Việt Nam: NNHC đang trên đà phát triển tốt. Bằng chứng là năm 2010, cả nước có 21.000 ha NNHC. Hai năm sau diện tích tăng thêm được 2.400 ha, lên thành 23.400 ha, chỉ bằng 0,2% diện tích đất sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, đến nay, diện tích canh tác, nuôi trồng hữu cơ của cả nước đã đạt hơn 43.010 ha, tập trung tại các tỉnh, thành như Hà Nội, Hòa Bình, Lào Cai, Hà Giang, Hà Nam, Lâm Đồng, Cà Mau, Bến Tre, Bà Rịa - Vũng Tàu, Quảng Nam…

PGS.TS Lê Văn Hưng, Hiệp hội NNHC Việt Nam cho biết: Nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm NNHC tại thị trường nội địa cũng như XK sang các thị trường như Nhật, Đức, Anh, Mỹ, Hàn Quốc, Nga, Singapore... khá cao, với giá bán cao gấp 3-4 lần nông sản bình thường. Tại thị trường nội địa, nhu cầu về sản phẩm an toàn, chất lượng cao là thuận lợi kích thích cho phát triển sản xuất hữu cơ với nhiều mặt hàng như gạo hữu cơ, chè hữu cơ, rau quả hữu cơ… Hệ thống các siêu thị với các gian hàng sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao mang nhãn rau, quả hữu cơ,… đã và đang hấp dẫn được sự chú ý của không ít nhà hàng, khách sạn cao cấp. Hiện nay, trong nước cũng bước đầu thiết lập được mối liên hệ giữa sản xuất với tiêu thụ sản phẩm trong chuỗi giá trị của một số hàng hóa hữu cơ.

“Về mặt XK, hiện nay, Hiệp định Đối tác Kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương dự kiến sẽ tác động tích cực tới XK nông sản Việt Nam, đặc biệt là hàng nông sản chất lượng cao hữu cơ. Các nhà đầu tư tại Nhật hoặc Mỹ... liên doanh với DN Việt Nam. Họ nắm được thông tin về thị trường, nhu cầu cũng như tiêu chuẩn cụ thể thì sẽ đưa quy trình công nghệ phù hợp để phía Việt Nam có thể sản xuất theo nhu cầu của khách hàng Nhật hay Mỹ. Đó là điều kiện rất tốt để Việt Nam hòa nhập với chuỗi giá trị toàn cầu, dần tăng lượng nông sản chất lượng cao an toàn với giá cạnh tranh. Các sản phẩm NNHC khi được công nhận và chứng nhận sẽ khá thuận lợi vì đáp ứng được các yêu cầu khắt khe về chất lượng của những thị trường này”, ông Hưng phân tích.

… nhưng chất chồng khó khăn

Theo ông Hoàng Bá Nghị, thành viên Ban chỉ đạo VietGAP Trung ương: Mặc dù có nhiều cơ hội, song thách thức khi phát triển NNHC ở Việt Nam cũng không hề nhỏ, bởi đời sống người dân còn thấp, dân trí chưa cao và những chính sách hỗ trợ của Nhà nước chưa nhiều, chưa hiệu quả. “Việc thay đổi tập quán canh tác từ sản xuất thông thường sang sản xuất hữu cơ là vấn đề không dễ dàng thay đổi bởi với sản xuất hữu cơ, người sản xuất chỉ được phép sử dụng chế phẩm sinh học, phân bón hữu cơ, phòng trừ dịch hại bằng các biện pháp thủ công hoặc thuốc thảo mộc, hoặc sinh học nên mất nhiều công sức và khó thực hiện trên diện rộng so với sản xuất thông thường”, ông Nghị nói.

Về vấn đề này, ông Hưng bổ sung thêm: Nhu cầu của người tiêu dùng về thực phẩm an toàn, chất lượng cao như sản phẩm hữu cơ ngày càng tăng. Tuy nhiên, nâng cao nhận thức cho cả cộng đồng về giá trị của NNHC không hề đơn giản. Ngoài ra, hệ thống các văn bản hướng dẫn và quy định về sản xuất hữu cơ đến nay vẫn chưa hoàn thiện, không đồng bộ cũng đặt ra thách thức lớn cho sản xuất hữu cơ.

Để thúc đẩy phát triển NNHC, ông Hưng đề nghị các bộ, ngành cần ban hành văn bản quy định, hướng dẫn cho sản xuất hữu cơ (tiêu chuẩn, quy chuẩn, các quy định chung về hướng dẫn, kiểm tra, giám sát sản xuất và chứng nhận, nhãn hàng hóa hữu cơ... phù hợp điều kiện Việt Nam và hài hòa với quốc tế), với các sản phẩm có nhãn hàng hóa có thể truy xuất nguồn gốc.

Một số chuyên gia hiến kế: Cần có quy hoạch đối với các địa phương dành diện tích đất cho sản xuất NNHC; cùng với đó là đầu tư cho các nhà khoa học nghiên cứu phục vụ phát triển sản xuất hữu cơ, đặc biệt trong việc xác định, phát triển sản phẩm chủ lực, thế mạnh của Việt Nam cho nhu cầu XK của hàng hóa nông sản hữu cơ.

Liên quan tới vấn đề này, ông Nghị góp ý thêm: Muốn đẩy mạnh XK và phát triển sản xuất nông nghiệp theo phương thức canh tác nông nghiệp hữu cơ, cần áp dụng đồng bộ nhiều giải pháp cả về mặt khoa học công nghệ, tài chính, thị trường... Cụ thể, phải thực hiện NNHC với sự phối hợp chặt chẽ của “4 nhà” gồm nhà sản xuất, nhà phân phối, tiêu thụ, Nhà nước và nhà khoa học, đơn vị hỗ trợ. Ban đầu, Nhà nước cần có sự hỗ trợ lớn trong việc làm mô hình mẫu, xây dựng thương hiệu quốc gia, phát triển thị trường, sau đó nhân rộng mô hình ra cả nước.

Về góc độ công nghệ, theo ông Nghị, cần áp dụng qui trình sản xuất nông nghiệp theo các yêu cầu của tiêu chuẩn NNHC như: NNHC của ASEAN, Canada, Mỹ, EU, Nhật …; đồng thời phải có sự tham gia đầu tư hỗ trợ kinh phí của Nhà nước trong giai đoạn đầu để thúc đẩy nhanh quá trình áp dụng phương thức sản xuất NNHC. Ví dụ: Nhà nước đóng góp với tỷ lệ 30 – 50%, còn DN đóng góp với tỷ lệ 50 – 70%.

“Ở góc độ thị trường, để có được chỗ đứng, cần tạo được lòng tin của người tiêu dùng, các nhà NK. Tại các nước công nghiệp, sản phẩm hữu cơ chỉ được chấp nhận trên thị trường sau khi có sự xác nhận của một tổ chức chứng nhận sản phẩm hữu cơ độc lập, có uy tín. Việc kiểm tra không chỉ tiến hành đơn thuần trên sản phẩm sau thu hoạch mà cả quy trình sản xuất. Ngoài ra, muốn có chỗ đứng trên thị trường quốc tế, sự hỗ trợ chính của Nhà nước trong xây dựng thương hiệu NNHC quốc gia và quảng bá thông tin thông qua các chương trình xúc tiến thương mại, tham gia các hội chợ triển lãm quốc tế, trình diễn công nghệ... đóng vai trò hết sức quan trọng”, ông Nghị nhấn mạnh.

Thanh Nguyễn