Nam Tây Nguyên mùa nắng lạnh. Hoa dã quỳ vàng rực phủ khắp triền đồi. Mùa này, mây la đà theo điệp trùng núi non ôm lấy những buôn làng, con suối Dà P’Lah dưới chân núi LangBiang mát xanh hơn. Và những bước chân lữ khách háo hức về miền xanh thẳm, với văn hóa bản địa nam Tây Nguyên, cùng hòa khúc en-ray nồng nàn ...

Nong nan cao nguyen - Anh 1

Mặt trời gác núi, buôn Đăng Gia, Bon Dơng, B’Nơh của người Cil, Lạch dưới chân núi LangBiang (huyện Lạc Dương, Lâm Đồng) bập bùng bếp lửa gọi chiều. Đoàn xe du lịch xếp hàng dài trên cung đường dẫn đến chân núi. Họ là những du khách tìm về miền đất huyền thoại này, bởi sự mê hoặc của văn hóa bản địa nam Tây Nguyên; để được hòa mình vào không gian văn hóa cồng chiêng, nhận lời chúc thân tình của già làng, thưởng thức men nồng rượu cần LangBiang bên bếp lửa, nghiêng ngả đêm rừng…

Không gian cổ tích, nguyên sơ. Ngọn lửa thiêng đang hừng hực cháy. Tiếng tù và, tiếng cồng chiêng quấn quyện. Đêm nay, nhà Krajan Druynh, trưởng nhóm cồng chiêng Yồ Rơng dưới chân núi LangBiang đón khách phương xa. Cây nêu linh thiêng của đồng bào Cơ Ho được dựng lên, rượu cần được bày biện theo khuôn phép của Yàng. Những chàng trai, cô gái miền sơn cước đã xôm tụ, tiếng tù và khai hội vang vọng. “Ơ Yàng! Này tôi mời gọi hỡi thần linh/ Khui rượu cần tôi mời nếm thử/ Rượu cần ngon tôi mời thần uống. Hỡi thần linh, đến uống đi, uống đi nào ...”. Thủ tục xin phép thần linh vừa dứt, tiếng chiêng tấu lên thổn thức. Nào tiếng chiêng mừng khách quý, mừng ngày hội mùa, tiếng chiêng drênh gọi mưa, tiếng chiêng proh gọi bầy… Khung cảnh trở nên huyền bí. Sự háo hức, lạ lẫm đồng hiện trên những khuôn mặt du khách, khi nghe già làng giới thiệu về mạch nguồn văn hóa người Cơ Ho, tình sử đôi uyên ương miền sơn cước gắn với sự hình thành ngọn LangBiang - biểu tượng ngàn đời của các bộ tộc thiểu số nam Tây Nguyên. Vít cong cần rượu trong nhịp chiêng bay bổng giữa đại ngàn, bà Đoàn Thị Kim Thủy, Việt kiều Pháp tỏ vẻ mãn nguyện, thổ lộ: Trong những chuyến trở về quê hương, mình đều tìm đến những điểm du lịch nổi tiếng trong nước. Nhưng đây là lần đầu mình đến với miền đất này. Quả thật, văn hóa Tây Nguyên có sức hút kỳ lạ.

Với hơn 75% đồng bào dân tộc bản địa sinh sống, người Cil, Lạch ở Lạc Dương vẫn giữ gìn bản sắc văn hóa độc đáo; đó là không gian văn hóa cồng chiêng, lễ hội, âm nhạc truyền thống, nghề dệt thổ cẩm và văn hóa rượu cần. Tiếng chiêng vừa dứt, nhạc sĩ Krajan Dick, người mấy chục năm nghiền ngẫm văn hóa nam Tây Nguyên, mở lời: Người Cơ Ho theo chế độ mẫu hệ, có lẽ thế nên cái chiêng đầu tiên trong bộ chiêng của họ được gọi là chiêng Mẹ, có nhiệm vụ giữ nhịp cả dàn chiêng và không gian văn hóa là không gian thiêng, gắn với buôn làng, cộng đồng. Đó là một trong những điều kiện thiết yếu để UNESCO xét công nhận cồng chiêng Tây Nguyên là di sản văn hóa nhân loại. Người Cơ Ho khi diễn tấu nhạc cụ không bao giờ kèm theo lời ca. Bởi thế, tiếng chiêng, tiếng cồng, tiếng khèn bầu, đàn ống tre… khi đã tấu lên, âm giai trong lành, bay bổng, phóng khoáng như chim Ch’rao sải cánh giữa đại ngàn.

LangBiang là ngọn núi có độ cao hơn hai nghìn mét so với mặt biển, còn có tên khác là núi Mẹ. Chẳng hiểu sao, những đứa con trai, con gái của núi Mẹ ấy cứ sinh ra là đã yêu hát ca, thích tiếng chiêng, tiếng cồng. Bởi thế, những buôn làng dưới chân núi ấy chỉ vài trăm nóc nhà, nhưng có đến hàng chục nghệ sĩ, ca sĩ. Trong đó, không ít người đã thành danh và nổi tiếng trong cả nước. Krajan Druynh bảo, tự nhiên thôi, có lẽ do được uống con nước của suối Dà P’Lah, được hưởng sinh khí của núi rừng, mỗi ngày được nghe tiếng chim Ch’rao hót… Giờ đây, dưới chân núi Mẹ đã có hơn mười đội cồng chiêng được cấp phép biểu diễn, mà mỗi lần đến thành phố hoa Đà Lạt, du khách đều ước muốn tìm về. Phó Chủ tịch UBND huyện Lạc Dương Nguyễn Quốc Kỳ cho biết: “Hiện ở huyện có 12 nhóm biểu diễn âm nhạc cồng chiêng. Sự ra đời của các nhóm nhạc này góp phần bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống bản địa, đồng thời mang lại giá trị kinh tế khi tiếp biến trong môi trường du lịch”. Trưởng nhóm cồng chiêng Yồ Rơng cho hay: “Mỗi nhóm cồng chiêng ở đây khoảng 20 đến 30 người, thường phục vụ du khách từ chiều đến tận khuya. Mỗi đợt biểu diễn khoảng ba giờ, với chương trình giới thiệu văn hóa bản địa, văn hóa rượu cần và giao lưu. Ngày lên rẫy, tối vào vòng xoang đã góp phần thay đổi cuộc sống của đồng bào mình”. Có thể nói, sự ra đời của các nhóm cồng chiêng phục vụ du lịch góp phần “đánh thức” cả cộng đồng cùng vào cuộc, nhằm gìn giữ, bảo tồn những nét đẹp văn hóa truyền thống. Để có được chương trình mang đậm bản sắc phục vụ du khách, các nghệ nhân của các nhóm cồng chiêng phải tìm hiểu, sưu tầm những giá trị văn hóa đã mai một để nó được hồi sinh trong chính cộng đồng. “Đây là hoạt động vừa văn hóa và giải trí. Qua đó các em, các cháu cũng truyền dạy cho nhau về văn hóa truyền thống. Đồng thời, kết hợp giữa nghệ thuật truyền thống và hơi thở của thời cuộc”, nhạc sĩ Krajan Dick, nguyên Phó Đoàn ca múa nhạc dân tộc tỉnh Lâm Đồng chia sẻ.

Đêm đã sâu hun hút, lửa rừng bập bùng, nhịp chiêng vẫn quấn quyện những đôi chân trần chàng trai, cô gái miền sơn cước trong hương rượu cần nghiêng ngả. Ánh trăng nhạt dần, chỉ còn huyền ảo dáng núi Mẹ LangBiang như bộ ngực sơn nữ căng tròn. Sau khi kết thúc phần nghi lễ buổi giao lưu, tiếng chiêng thúc giục du khách vào vòng xoang, múa quanh bếp lửa hồng. Nào tiếng chiêng mừng khách, tiếng chiêng gọi mùa hòa cùng điệu múa hoa LangBiang, ngày mùa trên buôn, săn thú… Ngồi bên tôi, anh Alex Joyex, du khách đến từ Pháp cùng những người bạn Việt Nam vui vẻ: “Được tự tay đánh chiêng, đàn đá, thổi kèn bầu tôi cảm thấy rất thú vị. Ở đây thật tuyệt!”. Trưởng nhóm cồng chiêng Yồ Rơng Krajan Druynh châm thêm lửa, rượu cần được bày biện thêm. Krajan Druynh bảo, rượu cần không thể thiếu trong đời sống của người Tây Nguyên, từ lễ, Tết, hội hè đến chuyện gia đình, dòng tộc, chuyện buồn vui, họ đều cùng nhau vin cần để sẻ chia, kết nối. Đỉnh LangBiang đang bồng bềnh trôi trong sương khuya. Tôi cũng đã ngất ngây trong hương nồng rượu cần, cùng những chàng trai, cô gái miền sơn cước. Nhạc tấu lên. Những ca khúc Tây Nguyên ào ào như thác đổ, vượt ra khỏi ranh giới buôn làng. Nhạc sĩ Krajan Dick, người sở hữu giọng ca trời phú, người đau đáu “giữ ấm bếp hồng” của buôn làng, tự trình diễn ca khúc “Nồng nàn cao nguyên” do ông sáng tác, lúc rạo rực, lúc tình tự: “Trời cao nguyên đêm sao lấp lánh, soi mặt em thơ rạng ngời/ Và thấp thoáng kia dáng nhà sàn rực sáng lung linh/ Ngàn thông xanh vi vu reo vui đón những người con về đây/ Rộng vòng tay, cùng hòa lời ca, tình anh em…”.

Chiêng, lửa, rượu cần… là những thực thể giao hòa trong không gian văn hóa đại ngàn Tây Nguyên. Tiếng chiêng quấn quyện ngọn lửa thiêng; đánh to, tiếng chiêng luồn vào rừng sâu, bò lên núi cao; đánh chậm, tiếng chiêng trườn lên đồng cỏ, khiến thú rừng quên ăn, quên ngủ; lòng người xốn xang, rạo rực. Ngoài thưởng thức biểu diễn cồng chiêng trong men say rượu cần LangBiang, trên những cung đường đất đỏ ba-dan nam Tây Nguyên, sức hút từ văn hóa làng người Mạ ở khu du lịch ĐamB’ri (TP Bảo Lộc), làng gà Đarahoa, làng dệt thổ cẩm K’Long của người Cil (Đức Trọng), làng gốm truyền thống Krăng Gọ và sự huyền bí về chiếc nhẫn Srí, vũ điệu Tamya huyễn hoặc của người Churu (Đơn Dương)… cũng khiến những bước chân lữ khách muốn tìm về. Dẫu rằng, trước vòng xoáy của sự phát triển, các làng nghề đang dần “tắt lửa”. Song, theo ThS Đặng Trọng Hộ (Đà Lạt), người có thâm niên điền dã văn hóa nam Tây Nguyên: Cuộc sống ngày càng phát triển, các yếu tố cổ truyền có những cái có thể mất đi. Riêng những cái tồn tại hàng trăm năm, trong tâm thức văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số, thì nó tất yếu được khôi phục theo tinh thần tự tôn dân tộc, ý thức về văn hóa cổ truyền; còn sự can thiệp của các yếu tố khác có lẽ chỉ mang tính tương đối.

Đảng và Nhà nước chủ trương đẩy mạnh hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa. Nhưng phải làm sao để giá trị văn hóa phát triển, có truyền thống, có tiếp biến và sử dụng được trong môi trường du lịch. Trong câu chuyện với già làng Krajan Plin, huyện Lạc Dương, ông kể: Cách đây hơn 15 năm, mình đã bán mười con trâu để mua dàn đàn, trống hiện đại, cùng với dàn nhạc dân tộc “kéo” thanh niên trong buôn đến với âm nhạc. Mình đứng ra thành lập đội cồng chiêng đầu tiên, tập cho bọn trẻ chơi chiêng, hát yal yau, tăm pớt, nhờ vậy mà giữ được cái nôi văn hóa của đồng bào mình. Tỉnh Lâm Đồng có 42 dân tộc thiểu số sinh sống. Hằng năm, địa phương đều bố trí một phần kinh phí cho hoạt động bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống. “Thời gian tới, chúng tôi tiếp tục tuyên truyền, đồng thời khảo sát thêm, để vừa giúp bà con nhận thức được tầm quan trọng trong bảo tồn bản sắc văn hóa, vừa phát hiện ra những nét mới, để có phương án khôi phục, phát huy giá trị. Du lịch gắn với cộng đồng, với nơi ăn, nếp ở của đồng bào dân tộc đang hấp dẫn du khách” - Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Đồng Nguyễn Thị Nguyên cho biết.

Chiều buông. Giữa mùa hoa dã quỳ mênh mang, trên hành trình khám phá nét đẹp văn hóa nam Tây Nguyên, chợt thổn thức âm giai “Nồng nàn cao nguyên” của Krajan Dick: “Tình yêu cao nguyên dâng cao trong ta, dần xóa tan bao muộn phiền / Cho dòng suối mát, hòa khúc en-ray nồng nàn…”.