Thầy Trần Văn Tiến (quê xã Tiên Cảnh, H. Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam) là một trong những người thuộc thế hệ giáo viên đầu tiên lăn lộn khắp các điểm trường vùng khó huyện biên giới Tây Giang (tỉnh Quảng Nam) để dạy học. Hơn 20 năm tuổi nghề và cũng chừng ấy năm thầy là người giáo viên cắm bản giữa đại ngàn Trường Sơn. Ký ức là những kỷ niệm buồn vui, gian khổ với nghề nhưng trong thầy vẫn không nguôi khát vọng đem con chữ đến với vùng sâu, vùng xa.

Noi long giao vien cam ban - Anh 1

Thầy Trần Văn Tiến luôn tận tâm cống hiến sự nghiệp trồng người.

Dạy học trong gian khổ, hiểm nguy

Trong chuyến công tác những ngày đầu tháng 11 đến với các xã vùng biên giới H. Tây Giang, chúng tôi tình cờ được gặp lại thầy giáo Trần Văn Tiến sau hơn 2 năm, từ khi thầy còn giảng dạy tại điểm trường thôn Aur (Trường Tiểu học A Vương, xã A Vương, H. Tây Giang). Hôm nay, chúng tôi lại một lần nữa được nghe thầy tếu táo đọc vần thơ chia sẻ nỗi niềm: “Bây giờ xã hội tiến lên/ Du lịch vũ trụ đã nằm tầm tay/ Giáo viên đi dạy nơi này/ Nửa ngày cuốc bộ thật là oái oăm/ Thông tin liên lạc biệt tăm/ Điện thoại sắm để chỉ nằm chơi game...”.

Thầy kể: “Ngày nhận nhiệm vụ lên huyện biên giới Tây Giang công tác là được phân công ngay vào làm giáo viên cắm bản tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa. Lúc ấy, vẫn chưa có đường xe máy vào bản làng, người giáo viên phải băng núi, vạch rừng mà đi. Có những điểm trường giáo viên phải lội bộ cả ngày trời mới đến được điểm dạy. Lớp học chỉ là túp lều bằng tre, nứa lá. Những đứa trẻ học sinh Cơ Tu đứa nào cũng gầy guộc, đen đúa. Ngày nào cũng vậy, những đứa trẻ không hề có một bữa cơm no. Cả bản, cả làng đói cơm, rách áo, nên cái chữ không muốn theo học. Để làm tốt công tác giảng dạy, thầy vừa lo công tác chuyên môn, vừa băng rừng, vượt suối đến từng nhà vận động học trò đi học. Ngoài dạy học trên lớp, thầy thường xuyên gần gũi, tiếp xúc với các em học sinh, bà con đồng bào dân tộc. Cùng ăn cùng ở với bà con, từ đó giúp dân làng hiểu được lợi ích việc đi học. Tấm lòng của thầy đã lay động bà con dân bản, gieo yêu thương vào từng lứa học trò, để rồi chúng quyết tâm theo thầy học chữ.

Với thầy, những ngày tháng dạy học ở những nơi đầy gian khó ấy phải đánh đổi biết bao mồ hồi, nước mắt, thậm chí nguy hiểm đến tính mạng. Những cơn lũ kinh hoàng và bệnh tật hành hạ suýt cướp đi mạng sống của thầy. Những trận sốt rét rừng khiến đôi môi thâm đen, nếu không được bà con dân bản kịp thời chăm sóc, cứu chữa thì khó mà qua khỏi. Giờ đây, khi những ngôi trường ngày một được đầu tư xây dựng khang trang, nhưng trong ký ức của thầy vẫn luôn lưu giữ những kỷ niệm buồn vui về quãng thời gian dạy học đầy gian khó ấy, điều đó giúp thầy cảm thấy tự hào về nghề giáo và có thêm động lực, có thêm trải nghiệm để tiếp tục hoàn thiện bản thân, tận tâm cống hiến cho sự nghiệp trồng người nơi vùng đất biên giới này.

Noi long giao vien cam ban - Anh 2

Thầy Tiến phải đi đánh cá, hái rau rừng để có thêm nguồn thức ăn đảm bảo cuộc sống.

Hy sinh niềm hạnh phúc riêng

Năm học 2016-2017, thầy Tiến tiếp tục luân chuyển về xã biên giới Tr’hy giảng dạy tại Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học và THCS Tr’hy (H. Tây Giang). Dẫu vẫn sống, dạy học trong điều kiện khó khăn, thiếu thốn nhưng tấm lòng nhiệt huyết với nghề vẫn không hề vơi cạn ở người thầy giáo “có duyên” với núi rừng này. Lên đây dạy học, thầy dằn lòng để người vợ ở lại quê nhà, một mình nuôi 2 con nhỏ. Do đường sá xa xôi, hàng tháng thầy chỉ về thăm nhà một lần. Còn những ngày mưa lũ, đường rừng sạt lở, suối nước dâng cao, có khi thầy bám trụ luôn, thi thoảng 3 - 4 tháng mới được về.

“Là người giáo viên công tác tại vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số thì luôn mang tâm trạng một cảnh hai quê, ở trường thì nhớ nhà, về nhà thì nhớ trường, nhớ lớp. Lúc nào trong sâu thẳm tâm hồn cũng dùng dằng 2 nỗi nhớ, khiến cho suy nghĩ mình không yên. Và bao giờ cũng vậy, tình yêu, thời gian, công sức, lòng nhiệt huyết đều dành cho trường, cho lớp nhiều hơn, bởi nơi đó đang có những học trò nghèo đang ngóng chờ mình”, thầy Tiến tâm sự.

Hỏi về ý định xin chuyển về vùng thuận lợi hơn để công tác, thầy Tiến không ngần ngại, trả lời ngay: “Người giáo viên cắm bản mang cái chữ lên đây truyền cho con em dân bản. Đổi lại bà con cho mình cái ăn, chỗ ở, cưu mang mình những ngày bệnh tật, ốm đau. Cái nghĩa, cái tình đó nặng lắm, làm sao trả hết. Bởi vậy, trong suy nghĩ của mỗi người giáo viên công tác ở địa bàn miền núi luôn trăn trở một điều là làm sao để sự nghiệp trồng người ở đây luôn phát triển, con em, học sinh dân bản được thụ hưởng một môi trường học tập toàn diện. Để thực hiện sự nghiệp trồng người ở vùng khó thì cần có những người chấp nhận thiếu thốn, hy sinh. Nếu giáo viên nào khi ra trường cũng chọn vùng đồng bằng, thành thị công tác thì lấy đâu ra người thực hiện sự nghiệp giáo dục ở vùng khó khăn. Ai cũng chọn nơi có trường học tươm tất thì những trường học tranh tre, nứa lá lấy đâu ra người giảng dạy. Nói vậy không phải để so sánh, ganh tị với đồng nghiệp đang công tác tại các vùng có điều kiện thuận lợi hơn, mà để mọi người thấu hiểu tấm lòng, sự hy sinh, cống hiến của những người giáo viên đang công tác, giảng dạy tại các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa hay vùng hải đảo xa xôi”.

Khải Minh