Mỗi năm đến ngày 13/10, cộng đồng doanh nhân Việt Nam lại có cơ hội gặp gỡ, trò chuyện, đàm đạo xung quanh chuyện đời, chuyện nghề tại hàng loạt các hội thảo, hội nghị, lễ lạt được tổ chức khắp nơi.

Gọi là “cơ hội” bởi vì họ quanh năm quần quật làm việc, kiểu như ông Đoàn Nguyên Đức “20 năm chưa đi du lịch lần nào”, đương đầu với biết bao thách thức và rủi ro nhưng thường phải nín nhịn cho qua vì các mục tiêu của tổ chức mà họ đang phục vụ. Đây cũng là một dịp hiếm hoi trong năm mà các doanh nhân được quyền than thở hay than phiền về các nỗi dằn vặt mà họ phải chịu đựng trong một thời gian dài để gầy dựng cơ nghiệp.

Một doanh nhân nổi tiếng trong ngành sữa kể lể: “Chúng tôi, cũng như đại đa số các doanh nghiệp khác, đều muốn đóng thuế nhiều cho Nhà nước, nhưng đạo đức cán bộ thuế thấp quá. Họ thường có biểu hiện nhũng nhiễu, làm khó doanh nghiệp. Cán bộ thuế đến với doanh nghiệp thường mang tâm lý áp đặt, gây khó khăn; thái độ luôn hoài nghi doanh nghiệp trốn thuế, đưa những nghĩa vụ thuế không hợp lý. Tình trạng “trên rải thảm, dưới rải đinh” vẫn phổ biến”. Trên thực tế, thay vì “làm bạn” với doanh nghiệp, các cơ quan thuế thường chọn tư thế “đối đầu” hay “bề trên” và có thể phán xét một cách vô cảm gây ức chế không đáng có, với phương thức hành xử tương đương một... cơ quan tố tụng. Ở một phương diện khác, Văn phòng JETRO Hà Nội (Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản) cho biết vốn FDI từ Nhật vào Việt Nam đang giảm dần, đứng sau Hàn Quốc và Đài Loan. Năm 2015, họ chỉ rót vào thị trường này 1,8 tỷ USD với 456 dự án, và 6 tháng đầu năm 2016 con số này là 1,229 tỷ USD. JETRO than phiền rằng kinh doanh ở Việt Nam ngày càng có nhiều rào cản do chi phí giao dịch (chi phí ngoài) quá cao. Nhiều doanh nhân Nhật phản ánh có những điều không minh bạch, thiếu thống nhất trong văn bản dưới luật, cho nên một số nhà đầu tư đã quyết định không đầu tư vào Việt Nam mà chuyển hướng sang các nước “dễ thở hơn”.

Tại Diễn đàn Doanh nhân Việt Nam 2016 vừa được tổ chức đầu tuần này, ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch VCCI, đã phát biểu rằng doanh nhân Việt Nam không chỉ chật vật với những nỗ lực tái cấu trúc để tồn tại, phải đối phó với thị trường, mà còn phải đối phó cả với thể chế, sự bất định của chính sách. Và vì thế doanh nhân phải dành quá nhiều thời gian cho “quan hệ”. Ông dẫn lời một giám đốc cao cấp trong ngành dệt may đã đau xót kêu lên rằng: “Môi trường kinh doanh khó quá nên ban ngày tôi làm kinh doanh còn tối thì đi... quan hệ”. Từ bao giờ chẳng rõ, dân gian đã mặc định bí quyết làm giàu trong thời buổi này bằng công thức: Tiền tệ - Quan hệ - Đồ đệ. Chúng ta có thể kiểm chứng điều này một cách dễ dàng và hiểu là nếu làm ăn trung thực tuyệt đối thì con đường tất yếu sẽ là... phá sản. Chính ông Lộc cũng thừa nhận rằng nước ta có nhiều đại gia thời gian qua lăn lộn thương trường và thành công nhờ quan hệ mà không cần... học hành gì. Điểm đặc thù tréo ngoe này càng làm hình ảnh doanh nhân trong nước trở nên méo mó và không được nhìn nhận đúng nghĩa. Thực tiễn này cộng với hàng loạt các vụ án liên quan đến quản lý kinh tế và tín dụng xảy ra dồn dập trong 5 năm gần đây, kèm với những thông tin rất xấu về tình hình kinh doanh của các doanh nhân càng khiến cộng đồng ngao ngán. Điều này tưởng chừng cũng dễ hiểu, vì các đại gia Việt chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực tài chính ngân hàng và bất động sản, còn lại tuyệt đại đa số doanh nghiệp có quy mô nhỏ và siêu nhỏ, tính bài bản và chuyên nghiệp thấp và còn xa mới đạt tới các chuẩn mực phổ biến toàn cầu. Với tình trạng này, cộng đồng doanh nhân Việt Nam còn lâu mới vươn vai cạnh tranh nổi với đồng nghiệp các nước láng giềng.

Trong một lần thể hiện quan điểm, Tiến sĩ Huỳnh Thế Du, giảng viên chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright Việt Nam, cho rằng: “Để doanh nghiệp Việt có thể phát triển, sẽ cần 3 trụ cột cơ bản: Nền kinh tế thị trường với vai trò nòng cốt là các doanh nhân; Nhà nước pháp quyền đúng nghĩa với vai trò điều chỉnh của Nhà nước trước các vết nứt của thị trường; và xã hội dân sự, tức là việc minh bạch hóa sự đúng hướng của DN và cách hành xử đúng mức của công chức Nhà nước”. Rõ ràng giới doanh nhân Việt vẫn chưa có được một bệ phóng vững chãi giải phóng khỏi mọi lực cản để họ vươn cao. Khi chúng ta nói về thực trạng của doanh nhân Việt, thì dù gì đi nữa, chúng ta vẫn phải mặc nhiên công nhận rằng họ đã có nhiều đóng góp quan trọng vào tiến trình đổi mới và sự nghiệp hiện đại hóa đất nước, làm ra của cải vật chất và tạo được hàng triệu việc làm.

Và vì vậy, nỗi khổ của doanh nhân chân chính hoàn toàn có thể được cảm thông.

Bích Phượng

Noi kho doanh nhan - Anh 1