Nợ công tính đến năm 2015 là 2.608 nghìn tỷ đồng, bằng 62,2% GDP. Tuy vẫn trong giới hạn cho phép song tốc độ tăng bình quân cả giai đoạn (18,4%/năm) là khá cao, gấp hơn 3 lần tốc độ tăng trưởng GDP...

No cong Viet Nam tang nhanh gap hon 3 lan toc do tang GDP - Anh 1

Đó là con số đáng chú ý được đưa ra tại Báo cáo thẩm tra về mục tiêu, định hướng huy động, sử dụng vốn vay và quản lý nợ công giai đoạn 2016 - 2020 của Ủy ban Tài chính ngân sách Quốc hội .

Ủy ban Tài chính Ngân sách cho biết, giai đoạn vừa qua, do tăng trưởng kinh tế không đạt kế hoạch, chính sách tài khóa chưa tích cực cùng với sự mất cân đối trong thu, chi ngân sách nhà nước, dẫn đến bội chi tăng cao trong nhiều năm, không đạt mục tiêu Quốc hội đề ra.

Đây chính là nguyên nhân khiến nợ công tăng nhanh, mặc dù vẫn trong giới hạn cho phép nhưng bắt đầu có dấu hiệu rất khó khăn về trả nợ trong ngắn hạn và có biểu hiện không an toàn trong dài hạn.

Theo đó, Ủy ban này đã nêu rõ nhiều hạn chế trong tình hình huy động, quản lý, sử dụng vốn vay giai đoạn 2011-201. Cụ thể như sau:

Nợ công tăng nhanh hơn so với tốc độ tăng trưởng GDP

Nợ công tính đến năm 2015 là 2.608 nghìn tỷ đồng, bằng 62,2% GDP. Tuy vẫn trong giới hạn cho phép song tốc độ tăng bình quân cả giai đoạn (18,4%/năm) là khá cao, gấp hơn 3 lần tốc độ tăng trưởng GDP.

Tỷ lệ nợ chính phủ /GDP tăng từ 39,3% năm 2011 lên 50,3% năm 2015. Đặc biệt, chỉ tiêu nợ Chính phủ/GDP năm 2015 là 50,3% đã vượt giới hạn trần cho phép (50%).

Nhiều khoản nợ có khả năng chuyển thành nợ công

Các chỉ số về nợ công tiềm ẩn nguy cơ tiệm cận hoặc vượt ngưỡng cho phép nếu tính cả các khoản nợ khác của ngân sách nhà nước, các khoản nợ có khả năng chuyển đổi thành nợ công, có nguy cơ ảnh hưởng tới tính bền vững của nợ công, tác động tiêu cực đến cân đối ngân sách nhà nước và tăng trưởng kinh tế trong dài hạn.

Mức dư nợ công được tính theo báo cáo chưa bao gồm các khoản nợ có tính chất nợ công, các khoản nợ khác của ngân sách nhà nước như nợ cấp bù chênh lệch lãi suất cho 2 ngân hàng chính sách, nợ khối lượng xây dựng cơ bản,...

Ủy ban Tài chính Ngân sách cho biết, nếu tính đủ các khoản này thì thực chất dư nợ công sẽ tiệm cận hoặc vượt giới hạn cho phép. Ngoài ra, các khoản nợ tự vay, tự trả của doanh nghiệp nhà nước về nguyên tắc thuộc nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của doanh nghiệp song trong trường hợp doanh nghiệp mất khả năng trả nợ rất có thể sẽ chuyển thành nghĩa vụ nợ dự phòng của Chính phủ, nếu quản lý không chặt chẽ sẽ chuyển thành nợ chính thức của Chính phủ, tạo thêm áp lực cho NSNN.

Do vậy, Ủy ban Tài chính ngân sách đề nghị Chính phủ báo cáo, đánh giá rõ hơn về mức dư nợ công sau khi tính cả các khoản nợ có tính chất nợ công, các khoản nợ khác của ngân sách nhà nước.

Đồng thời, tổng hợp, cung cấp số liệu liên quan đến nợ của doanh nghiệp nhà nước, đánh giá sâu hơn về khả năng nợ xấu của những doanh nghiệp có nguy cơ chuyển thành nghĩa vụ nợ dự phòng của Chính phủ; số đã chuyển từ nợ dự phòng thành nợ chính thức của Chính phủ.

Sử dụng nợ công chưa thực sự hợp lý

Ủy ban Tài chính Ngân sách dẫn số liệu tổng hợp cho thấy, vốn vay trong nước ngắn hạn chiếm tỷ lệ cao, lãi suất cao, thời gian trả nợ ngắn nhưng lại được sử dụng cho các công trình, dự án có đầu tư và thu hồi vốn dài.

Tỷ lệ nghĩa vụ nợ gồm cả đảo nợ đã vượt giới hạn cho phép. Theo đó, nếu tính cả nghĩa vụ trả nợ phải đảo nợ thì tổng nghĩa vụ nợ đã ở mức 27,4% tổng thu NSNN vào năm 2015.

Nếu tính cả các khoản nợ được Chính phủ bảo lãnh và các khoản vay về cho vay lại đang tiềm ẩn nguy cơ không có khả năng trả nợ, chuyển thành nợ trực tiếp của Chính phủ thì tỷ lệ nghĩa vụ nợ tiếp tục tăng.

Do vậy, Ủy ban Tài chính ngân sách đề nghị Chính phủ bổ sung đánh giá, báo cáo cụ thể hơn về cơ cấu nợ, số liệu nghĩa vụ trả nợ bao gồm cả nợ gốc và lãi, số vay đảo nợ hàng năm và cả giai đoạn 2011-2015.

Vay đảo nợ tăng nhanh, năm sau cao hơn năm trước

Ủy ban Tài chính ngân sách cho biết, khả năng cân đối nguồn để trả nợ gặp nhiều khó khăn, bố trí chi trả nợ hàng năm chưa tương xứng với nghĩa vụ trả nợ đến hạn, vay đảo nợ tăng nhanh, với khối lượng lớn trong nhiều năm, năm sau cao hơn năm trước, thể hiện cơ cấu, kỳ hạn vay bất hợp lý, hiệu quả sử dụng vốn vay thấp, không thu hồi được nguồn để trả nợ.

Đặc biệt, cần chú ý đến chỉ số rất quan trọng, là một trong những thước đo để đánh giá mức độ an toàn nợ công là tỷ lệ nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ (bao gồm cả đảo nợ và cho vay lại) trên tổng thu ngân sách nhà nước khi chỉ số này đang có xu hướng tăng nhanh , vượt mức trần 25%, ảnh hưởng tới an ninh tài chính quốc gia.

Đáng lưu ý đó là tính hiệu quả sử dụng vốn vay chưa cao; một số dự án vay lại từ nguồn vốn vay nước ngoài của Chính phủ, dự án được Chính phủ bảo lãnh khó khăn trong trả nợ.

Một số dự án sử dụng vốn vay điều chỉnh tổng mức đầu tư lớn, kéo dài thời gian thi công, chưa đưa vào khai thác, vận hành như Công ty Cổ phần gang thép Thái Nguyên, dự án đường sắt đô thị Cát Linh - Hà Đông,...

Vì vậy, Ủy ban Tài chính ngân sách đã đề nghị Chính phủ đánh giá sâu hơn về hiệu quả sử dụng vốn vay, cung cấp số liệu các dự án được Chính phủ bảo lãnh vay vốn, dự án Chính phủ vay về cho vay lại không hiệu quả, khó khăn trong trả nợ hoặc không có khả năng trả nợ, phải cơ cấu lại nợ, số tiền phải trả nợ thay; các dự án phải điều chỉnh tăng tổng mức đầu tư, thi công kéo dài và nguyên nhân của các tồn tại này.

Báo cáo của Ủy ban Tài chính ngân sách cũng nhận xét, một trong những định hướng được đề ra trong báo cáo của Chính phủ là cắt giảm mạnh bảo lãnh Chính phủ song số liệu về các khoản vay do Chính phủ bảo lãnh giai đoạn 2016-2020 lại có xu hướng tăng là chưa thống nhất. Cụ thể, con số này tăng từ 501.000 tỷ đồng năm 2016 lên 650.000 tỷ đồng năm 2020, trong khi đó, con số này năm 2015 chỉ là 464.000 tỷ đồng.

Mạnh Nguyễn