Biển Đông, đã không còn lặng sóng. Biển Đông, giờ đây trở thành vấn đề rất nóng bởi tham vọng bá chủ của Trung Quốc. Đây là quốc gia tranh chấp có lãnh thổ rộng lớn nhất, và cũng là bên đưa ra những yêu sách mạnh mẽ nhất, dù đầy phi lý và ngụy biện. Tuy nhiên, hành vi của Trung Quốc không phải lúc nào cũng phản ánh sức mạnh và tham vọng bành trướng của họ.

Thay vào đó, chiến lược của Trung Quốc phức tạp hơn nhưng đầy mâu thuẫn, được hình thành chủ yếu bởi “mong muốn duy trì hòa bình và ổn định khu vực”, trong khi vẫn tiếp tục thúc đẩy những yêu sách “vừa ăn cướp, vừa la làng”, đi ngược lại luật pháp quốc tế và dùng mọi biện minh để hiện thực hóa “giấc mơ Trung Hoa” trên biển Đông.

Lợi ích chiến lược đầy mâu thuẫn

Trung Quốc bắt đầu khởi sắc kể từ khi kết nối vào quá trình toàn cầu hóa do Mỹ đứng đầu. Các số liệu thống kê cho thấy: nền kinh tế phát triển bùng nổ với tốc độ trung bình hàng năm gần 10% trong 35 năm qua, và trong thời gian đó, kinh tế Trung Quốc đã có 5 lần tăng trưởng gấp đôi về quy mô. Kể cả khi tăng trưởng kinh tế Trung Quốc chậm lại phần nào, thì nền kinh tế Trung Quốc vẫn có khả năng sẽ vượt qua kinh tế Mỹ trong tương lai gần.

Để tiếp tục phát triển, Trung Quốc cần một châu Á ổn định và hòa bình. Do đó, giới quan chức lãnh đạo đã nhiều lần tuyên bố khái quát chính sách bằng các ngôn từ "trỗi dậy hòa bình" hoặc "phát triển hòa bình". Chiến lược này không phải là lời nói suông.

Trong 30 năm qua, Bắc Kinh đã dàn xếp được nhiều tranh chấp, xúc tiến hoạt động ngoại giao khu vực khéo léo, tích cực tham gia vào các tổ chức liên chính phủ khu vực và quốc tế, và ký kết các hiệp định thương mại cùng có lợi trên khắp thế giới. Trung Quốc đã cố gắng trở thành một công dân gương mẫu của khu vực nhằm phục vụ các tham vọng kinh tế.

Trung Quốc thực ra lo sợ các cuộc xung đột có thể phá vỡ tan tành các mối quan hệ kinh tế, đẩy Trung Quốc cách xa khỏi các đối tác thương mại quan trọng, kể cả khi bản thân Bắc Kinh tìm cách tránh không dính líu vào. Tồi tệ hơn cả là bất kỳ một cuộc xung đột nào trong khu vực cũng có thể tạo ra cho Mỹ cơ hội có thêm nhiều hơn nữa quyền lực chính trị và quân sự trong khu vực - một mối đe dọa đối với tham vọng lâu dài nhằm giành ưu thế (thậm chí là quyền bá chủ) trong khu vực mà Trung Quốc đang theo đuổi.

Trong thế giới lý tưởng của Bắc Kinh, Trung Quốc ngay bây giờ sẽ phải là ông chủ không thể tranh cãi của biển Đông. Bắc Kinh tìm cách kiểm soát biển Đông để ứng phó với các mối đe dọa an ninh quốc gia và thúc đẩy các mục tiêu kinh tế. Biển là một điểm yếu chiến lược của Trung Quốc vì đó là tuyến đường xâm lược trong lịch sử và là một mối đe dọa hiện hữu đối với an ninh năng lượng và nền kinh tế định hướng xuất khẩu của Trung Quốc. Kiểm soát được biển Đông còn mang lại nhiều lợi ích hữu hình từ trữ lượng cá dồi dào, và đặc biệt là trữ lượng dầu mỏ và khí đốt đủ để bất kỳ quốc gia nào cũng đều mơ ước.

Với tham vọng thâu tóm Biển Đông từ "đường lưỡi bò" tự vẽ cùng động thái gây hấn, Trung Quốc cho thấy rõ bản chất phi lý và phi nghĩa của mình.

Rõ ràng, các lợi ích chiến lược của Trung Quốc đang mâu thuẫn với nhau. Một mặt, Bắc Kinh muốn giải quyết tranh chấp trên biển Đông càng nhanh chóng và hòa bình càng tốt. Tranh chấp đã cản trở việc hội nhập khu vực sâu rộng hơn, và trong những năm gần đây, Trung Quốc đã nổi tiếng vì cách hành xử hiếu chiến, vốn đã làm nguội lạnh các mối quan hệ trong khu vực.

Mặt khác, Trung Quốc cũng không hề muốn mất quyền kiểm soát một khu vực chiến lược quan trọng như vậy. Tóm lại, Trung Quốc có thể cố gắng giải quyết tranh chấp thông qua thỏa hiệp hoặc xâm lược, nhưng chẳng lựa chọn nào là hấp dẫn cả.

Kế trì hoãn

Thay vì cố gắng giải quyết xung đột, Bắc Kinh đã né tránh và áp dụng chiến lược trì hoãn. Bị kẹt giữa các lợi ích chiến lược trái ngược nhau, Trung Quốc đã tìm cách duy trì sự kiểm soát vừa đủ để bảo vệ các yêu sách của họ mà không tạo ra sự khống chế quá lớn khiến các bên tranh chấp khác trở nên lo ngại. Chiến lược trì hoãn cũng nhằm tận dụng ưu thế lớn nhất: một sức mạnh đang bành trướng và con đường tăng trưởng lâu dài mà Bắc Kinh đang âm thầm toan tính.

Ví dụ tốt nhất cho kế trì hoãn trong thực tế chính là chiến lược pháp lý của Trung Quốc. Chiến lược này là sự kết hợp giữa các nội dung yêu sách pháp lý và chiến thuật đàm phán, tất cả đều nhằm giữ nguyên hiện trạng, trong khi vẫn duy trì sự linh hoạt tối đa trong tương lai. Trung Quốc đã bám chặt lấy cách diễn giải mơ hồ như một trụ cột chủ chốt trong chiến lược pháp lý. Ngay cả hiện nay, sau nhiều thập niên tranh cãi, phạm vi các yêu sách của Trung Quốc vẫn không có gì thay đổi.

Trung Quốc chỉ mới khuấy động vùng biển Đông trong những năm gần đây khi đưa ra cái gọi là "đường lưỡi bò" đầy tai tiếng. Văn bản của phía Trung Quốc khẳng định một cách khá mập mờ rằng: "Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo ở biển Đông và các vùng biển lân cận, và có các quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển liên quan, cũng như thềm lục địa và cả lòng đất ở dưới đáy biển".

Tấm bản đồ đính kèm cho thấy, một đường chín đoạn bắt đầu từ bờ biển của Trung Quốc và bao gồm gần như toàn bộ biển Đông. Có vẻ khá rõ là Trung Quốc yêu sách chủ quyền đối với tất cả các hòn đảo nằm trong ranh giới mênh mông của đường chín đoạn.

Việc Trung Quốc kéo các giàn khoan khổng lồ vào vùng biển thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam chứng tỏ quyết tâm và sự hung hăng với tham vọng kiểm soát toàn bộ khu vực Biển Đông.

Đòi hỏi điều này sẽ là sự vi phạm trắng trợn các nghĩa vụ quốc tế của phía Trung Quốc. Theo luật pháp quốc tế, các quốc gia bị ràng buộc bởi nguyên tắc "la terre domine la mer" (đất thống trị biển), tức nguyên tắc chủ quyền đối với vùng biển phải xuất phát từ chủ quyền đối với đất ở gần đó, chứ không phải là ngược lại. Phù hợp với nguyên tắc này, Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) cho phép các quốc gia kiểm soát vùng biển nội thủy chỉ trong một khoảng cách nhất định tính từ lãnh thổ chủ quyền của họ. Ngay cả dưới cách diễn giải rộng rãi nhất đối với UNCLOS, thì Bắc Kinh cũng không thể đòi hỏi một cách hợp pháp quyền kiểm soát phần lớn vùng biển được bao bọc bởi đường chín đoạn.

Chiến lược trì hoãn của Trung Quốc cũng ảnh hưởng đến cách thức đàm phán về các yêu sách pháp lý. Trước hết, Trung Quốc đã cố hết sức để tránh việc giải quyết xung đột. Trong khi, họ đã chính thức cam kết giải quyết vấn đề một cách hòa bình, trên thực tế Bắc Kinh lại không ngừng cổ vũ cho chính sách "hợp tác cùng khai thác", theo đó các bên tranh chấp trì hoãn giải quyết các tranh chấp chủ quyền và nên cùng nhau hợp tác khai thác các nguồn tài nguyên trên Biển Đông!?

Một chiến thuật đàm phán khác là Bắc Kinh luôn đòi giải quyết tranh chấp trên Biển Đông trên cơ sở song phương. Theo sự khôn ngoan thông thường, Trung Quốc muốn thương lượng tay đôi chứ không muốn đàm phán đa phương bởi vì Trung Quốc có thể dễ dàng hơn dùng sức mạnh để gây áp lực với một đối tác đàm phán duy nhất.

Trong khi đó, các cuộc đàm phán đa phương khiến các bên tranh chấp khác dễ thỏa thuận với nhau hơn để buộc Trung Quốc phải hành động. Ngay cả khi đã không thể ngăn chặn các bên khác có thỏa thuận riêng, thì Trung Quốc cũng đã cản trở tiến trình đàm phán bằng cách thu phục từng quốc gia riêng lẻ và lợi dụng những chia rẽ nội bộ.

Dựng thế gọng kìm để… ăn cướp

Để hiện thực hóa giấc mơ bá chủ Biển Đông, Trung Quốc bắt đầu toan tính tiến hành chiến lược "hai gọng kìm". Trung Quốc đã làm tràn ngập Biển Đông bằng một bầy những con tàu "vỏ trắng", tức các tàu thuộc sở hữu của các cơ quan hàng hải dân sự. Những con tàu này sau đó được sử dụng để đẩy lùi các bên tranh chấp khác, ví dụ, như bằng cách bắt giữ ngư dân nước ngoài hoặc cắt cáp của tàu thăm dò dầu khí.

Gần đây nhất, Bắc Kinh đã hạ đặt trái phép giàn khoan dầu Hải Dương 981 ở ngoài khơi bờ biển Việt Nam, tất nhiên là nó được bảo vệ bởi một hạm đội tàu vỏ trắng. Với tư cách một phần của chiến lược này, Trung Quốc còn sử dụng sức mạnh kinh tế của mình để "gây trở ngại" khiến các nhà đầu tư quốc tế không dám mạo hiểm vào vùng biển rắc rối này của khu vực.

Để triển khai gọng kìm thứ hai, Bắc Kinh tiếp tục mở rộng và tăng cường năng lực cho hải quân của họ. Những năng lực này sau đó được sử dụng hầu như chỉ nhằm mục đích răn đe: Trung Quốc không muốn dính líu vào cuộc xung đột trực tiếp mà tìm cách đặt ra một giới hạn cho việc cưỡng chế phi quân sự của gọng kìm thứ nhất và ngăn không để nó vượt khỏi tầm kiểm soát. Kết quả là khi các tàu Philippines đối mặt với các tàu hàng hải dân sự Trung Quốc thì họ luôn biết rằng, chắc chắn hải quân Trung Quốc cũng đang ẩn nấp đâu đó ngay ngoài tầm mắt của họ.

Kết hợp lại, hai gọng kìm này cho phép Bắc Kinh phản ứng mạnh mẽ với mọi hành động của các bên tranh chấp khác, trong khi vẫn kiềm chế khả năng leo thang. Một lần nữa, mục tiêu lại là dung hòa các lợi ích chiến lược đầy mâu thuẫn: Bắc Kinh bảo vệ các yêu sách phi lý thông qua các biện pháp dân sự đôi khi khá hung hăng, nhưng lại ngăn chặn không để cuộc tranh chấp gây nguy hiểm cho sự phát triển lâu dài của mình bằng cách đảm bảo rằng "súng vẫn nằm yên trong bao".

Nhìn những hành động gây hấn trên Biển Đông và thái độ bất chấp của Trung Quốc trước dư luận quốc tế trong thời gian qua, ai cũng nghĩ rằng Trung Quốc đã đạt đến vị thế "cao đạo" của một nước lớn mạnh về cả kinh tế và quân sự nên chẳng sợ ai. Có thể đó chỉ là thủ đoạn chính trị và ngoại giao xảo trá của một bộ phận nhà cầm quyền Trung Quốc có tư tưởng bành trướng và coi thường xương máu nhân dân, bất chấp luật pháp quốc tế?... Nhưng thực ra Trung Quốc hiện nay đang trong thế "tứ bề thọ địch" phải căng trải ra để đối phó nên không dễ gì dốc được toàn lực để mà "ăn hiếp" Việt Nam cũng như các nước Đông Nam Á.

Thực tế mối quan hệ với các nước láng giềng cho thấy: không còn nước láng giềng nào là Trung Quốc không có xung đột, gây hấn, khi thì trên đất liền, khi thì trên biển. Sự gây hấn trắng trợn và quan hệ "lúc mặn lúc nhạt" bất nhất của Trung Quốc đến mức nhiều nước phải liệt quan hệ ngoại giao với Trung Quốc vào đối tượng của "sách trắng" bởi không biết xếp vào đâu, là bạn hay là thù.

Bởi vậy, không chỉ Việt Nam mà dư luận quốc tế trong những ngày qua cũng không quá ngạc nhiên trước việc Trung Quốc "vừa ăn cướp, vừa la làng" trong việc xâm lấn vùng biển, đảo của Việt Nam bởi đó cũng là chiêu trò mà Trung Quốc đã dùng đối với nhiều quốc gia láng giềng khác trong thời gian dài. Cái mà Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa thực chất là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Sự thực không thể chối bỏ đó được chứng minh bằng những văn bản, bản đồ, thư tịch, tư liệu cổ (những thứ mà Trung Quốc không hề có); bằng cột mốc chủ quyền sừng sững trên đảo (ở Hoàng Sa, Trung Quốc đã dỡ bỏ); bằng máu của những người con Việt Nam đã ngã xuống khi bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc; và bằng ý chí của cả dân tộc Việt Nam đã và đang đấu tranh để đòi lại vùng lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc mình