16 người đàn ông, hàng ngày hết lên rẫy lại lộn xuống biển kiếm sống. Mỗi người mỗi cảnh, nhưng chung điểm nghèo, hết sức yêu rùa biển và tự nguyện tham gia vào tổ bảo vệ rùa. Gần chục năm nay, ban ngày họ vất vả mưu sinh, đêm xuống, những người đàn ông này lại âm thầm đỡ đẻ cho rùa.

Vì tui là ngư dân.. Hơn 3km bờ biển, kéo dài từ bãi Ngang đến bãi Móng Tay - ở thôn Thái An, xã Vĩnh Hải, Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận, thuộc Vườn quốc gia Núi Chúa - hiện là một trong hai điểm của cả nước có quần thể lớn nhất về rùa biển lên bờ đẻ trứng. Góp công vào sự độc đáo này là tổ ngư dân cứu hộ rùa biển, mà người dân Thái An gọi là tổ những người đàn ông đỡ đẻ cho rùa. Anh Nguyễn Cường, 46 tuổi, có đủ từng ấy năm lớn lên, lập nghiệp ở thôn Thái An, một trong 8 ngư dân đầu tiên tình nguyện gia nhập tổ cứu hộ rùa biển, do tổ chức WWF (Quỹ Quốc tế Bảo vệ thiên nhiên) thành lập, khẳng định với giọng chân chất của dân miền biển: “Tui đi bảo vệ rùa biển vì tui là ngư dân...”. Anh Cường kể, hơn 10 năm trước, rùa biển Thái An nhiều lắm, nhiều như cá vậy. Ngư dân trong vùng, nhiều người chọn nghề đánh bắt cá, mực là nghề thứ hai, sau nghề... bắt rùa. Hồi đó, chợ xã, chợ thôn đâu đâu cũng bán thịt rùa. Mỗi ngày trung bình có hàng chục con rùa bị xẻ thịt, mà mỗi con rùa nặng cả tạ chứ đâu phải ít. Như lão ngư Lê Nuôi - thành viên lớn tuổi và nhiệt tình nhất đội cứu hộ rùa biển bây giờ - 10 năm trước ngày nào cũng bắt ít nhất 3-4 con rùa mang bán cho các đầu mối ở chợ. Nếu không có chuyện dân vùng này bán thịt rùa thay thịt bò mấy năm về trước, thì rùa Thái An bây giờ nhiều nhất nước rồi, anh Cường khẳng định! Lạ là khi đàn rùa mất dần, thì cá, tôm cũng thưa thớt. Sau này các ngư dân mới biết tôm, cá và nhiều sinh vật khác vẫn thường sống quây quanh rùa biển, như một quy luật. Năm 2001, khi WWF kêu gọi bảo vệ đàn rùa biển trước nguy cơ tuyệt chủng, cả xã mới giật mình, anh Nguyễn Hồng Sĩ cho biết. Cũng vì vậy mà 8 ngư dân đầu tiên, là những người từng là “sát thủ rùa” trước đây xung phong vào tổ bảo vệ rùa. “Bây giờ thì tổ đã có 16 ngư dân góp sức. Người lớn tuổi nhất đã gần 80, người trẻ chưa đến 30 tuổi, cùng ý thức chuyện phải giữ đàn rùa”, anh Trần Minh Tuấn - Trạm trưởng Trạm Kiểm ngư Thái An - nói. Tổ cứu hộ rùa biển tham gia bằng tinh thần tự nguyện. Mọi người đều có thâm niên nghề đi biển, gắn bó và có trách nhiệm với biển, nên chỉ qua một lớp tập huấn, cộng với vài lần trải nghiệm là làm việc thuần thục. Gần 10 năm tham gia bảo vệ rùa biển, tổ đã cứu hộ cho hàng chục lượt rùa lên bờ đẻ trứng, thả về biển hàng ngàn rùa con. Số lượng rùa lên bờ đẻ cứ tăng theo từng năm. Như năm 2008 có 8 con rùa đẻ, khoảng hơn 600 rùa con được thả về biển, đến năm 2009 đã có 12 chị rùa lên bờ đẻ trứng, với 10 ổ trứng rùa được ấp thành công, gần 800 rùa con được về với biển. Trong năm 2010 vừa qua, cũng từng ấy “bà mẹ” rùa quay lại đẻ ở “bệnh viện phụ sản này”! Và cũng từ tổ cứu hộ rùa tuyên truyền vận động, mà người dân trong khu vực bỏ hẳn thói quen bắt rùa. Bây giờ, dân trong xã đi biển, nếu lỡ đánh lưới trúng rùa, dù lớn hay nhỏ cũng báo cho kiểm ngư xử lý. Niềm vui... “bà đỡ” Công việc... đỡ đẻ cho rùa bắt đầu từ chạng vạng tối cho đến gần sáng hôm sau, tùy vào con nước, và liên tục như thế từ tháng 2 đến tháng 10 hàng năm. Mỗi người một đèn pin đi dọc bãi biển kiểm tra, theo dõi rùa làm tổ, đẻ trứng. Nếu có con rùa nào đẻ xong, vì mắc cạn hay gặp vật cản nào đó không quay về biển được, cả tổ khiêng “bà đẻ” xuống mép nước. Tiếp theo là bảo vệ ổ trứng, phải có rào chắn, lưới che cẩn thận, rồi theo dõi nhiệt độ thích hợp... cho đến sau 45 ngày, khi trứng nở thành con, mọi người lại cùng nhau thả rùa con về biển. Con nào yếu thì giữ lại, chăm sóc đến khi cứng cáp. “Thả rùa con về biển là công việc mà tôi thích nhất. Nhìn những con rùa nhỏ xíu, nằm gọn trong lòng bàn tay, nhưng gặp nước là quẫy, đạp rồi biến mất vào biển, tôi thấy việc mình làm thật ý nghĩa, và tiếc cho khoảng thời gian chúng tôi đã tàn sát rùa trước đây. Nếu may mắn, sau này tôi lại làm “bà đỡ” cho rùa con được nở ra từ bãi biển này, khi chúng quay về nơi được sinh ra để đẻ trứng”, anh Cường vừa nói vừa nở nụ cười. “Thả rùa về biển cũng phải có quy luật, phải chia mỗi nơi một ít để tránh thiên địch tấn công rùa con. Tuy nhiên, đây là công việc đơn giản nhất trong công đoạn... chăm rùa đẻ”, anh Sĩ kể với chúng tôi. Khổ nhất là thời điểm theo dõi rùa làm tổ, đẻ trứng. Rùa có độ nhạy cảm mạnh lắm. Chúng nghe được tiếng người nói, tiếng bước chân, ngửi được cả mùi hơi người, mùi thuốc lá... và đặc biệt là kỵ ánh sáng. Điều đặc biệt là lúc rùa đang đẻ thì làm gì chúng cũng mặc kệ, chứ khi đang làm tổ mà thấy động là quay về biển ngay. Do vậy, những người đàn ông đỡ đẻ cho rùa phải đi nhẹ nhàng dưới mép nước, ngược với tất cả những gì rùa có thể đánh hơi, mới có thể theo dõi, cứu hộ được rùa đẻ. Anh Tuấn bảo cả tổ cùng rèn nhau hiểu đặc tính của rùa, giờ giấc thích hợp chúng thường lên bờ đẻ. Gặp những con dễ tính thì chỉ cần mấy chục phút làm tổ, chúng đẻ ngay. Nhưng cũng có nhiều con làm anh em mệt phờ; vì cứ làm hết tổ này đến tổ khác, ngụy trang đủ kiểu, mất 3-4 đêm sau mới chịu “lâm bồn”. Có khi theo dõi cả đêm vẫn không biết trong 3-4 tổ chúng đào, thì tổ nào là tổ có trứng, để chăng lưới bảo vệ. Nhiều đêm thức trắng cùng rùa đẻ, anh em bị gai cào trầy xước khắp người. Anh Tuấn còn kể về lần đầu tiên nhìn thấy rùa đẻ, anh vừa sợ vừa mừng. Sợ là vì lần đầu nhìn thấy con rùa to cả trăm kilôgram đẻ trứng. Mừng là vì mọi người đã giúp đỡ “bà đẻ” thành công. Lần đó, con rùa đẻ xong vướng gò đất không xuống biển được. Bốn anh em đã khiêng rùa xuống bãi biển, rồi quây lưới bảo vệ cho ổ trứng sau đó nở gần 100 rùa con. Không chỉ cứu hộ rùa đẻ, những người đàn ông này còn làm nhiệm vụ theo dõi, bấm thẻ cho những con rùa lên bờ đẻ trứng. Nhờ vậy mới biết trong số đó, có 12 con lên bờ đẻ trứng năm nay đều là những con rùa đẻ lần 2... Ông Lê Nuôi cho biết: “Việc bấm thẻ với rùa khổ lắm. Nếu không khéo và không biết cách là rùa dùng 2 vây trước tấn công. Ai không may bị vây rùa tát vào mặt là choáng váng, tê tái người. Cả đội người nào ít nhất cũng một vài lần bị rùa... tát. Nhưng không ai có ý bỏ công việc này, dù thù lao cho mỗi người chỉ mang tính hỗ trợ, với 300.000 đồng/tháng. Ghi chép của Phùng Bắc - Trần Lê