Thầy Nguyễn Hùng Vĩ có lần nói với tôi là có một phong cách thơ, hay một dòng thơ Văn khoa Tổng hợp – sau là Khoa Văn học – Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn (KHXH&NV Hà Nội), do nhiều nhà thơ từng học tập ở đây ra đời sáng tác mà thành.

Nhung ngon lua ban dau - Anh 1

Hồi đó, nhanh quá, đã 17 năm rồi, đang là sinh viên của khoa, là lớp phó học tập, tôi sang nhà nhờ thầy phác cho mấy đề tài để mời các nhà văn, nhà thơ về nói chuyện với lớp. Bởi thấy thầy có mối liên hệ từ trên mức… xã giao cho đến mật thiết với nhiều văn sĩ, thi sĩ, không ít người trong đó đã thành danh, nhất là có những người xuất thân sinh viên Văn khoa Tổng hợp. Thầy quen rộng, biết nhiều như thế, nhưng quý nhất là rất có ý muốn sinh viên được nhiều dịp giao lưu, gặp gỡ các bậc “khách văn chương” như thế. Như một cách cập nhật thêm thông tin, tri thức nghề văn sôi động ở ngoài giảng đường. Như gieo thêm niềm vui, niềm vinh dự cho các bạn trẻ bỡ ngỡ chạm ngõ văn được tiếp cận với những cái tên được công chúng ngưỡng mộ. Như “lên dây cót” cho người “dũng cảm” học văn, mà trong đó biết đâu có thể rồi có người dấn thân vào nghiệp chữ nghĩa nhọc nhằn dai dẳng và nhiều “mê đắm bất thường” này.

Tôi chẳng hình dung được lắm về phong cách mà thầy nói, cả bây giờ cũng thế, đầu não vốn không dành cho sự lập luận, sở cứ, chứng lý, khảo sát… của tôi có lẽ chỉ đủ nghe và thấy thích điều thầy nói ra. Nhưng thực sự một cái ý về phong cách thơ, dòng thơ của một văn khoa “nhiều năm tuổi” mà mình đang theo đòi ở đấy, đã gieo cả một mầm hy vọng kín đáo trong tôi, ở vào cái thời vụng dại, tập tọe viết lách và suốt ngày lông bông lang bang ấy. Thầy kể ra những cái tên nhà thơ Nguyễn Duy, Đỗ Minh Tuấn, Hoàng Nhuận Cầm… - các cựu sinh viên khoa văn thuộc các thế hệ khác nhau. Và thơ của những người ấy làm nên dòng chảy như thế. Tôi thì nghĩ về thơ của chính thầy Vĩ và cho là phải có thêm cái tên thầy vào đấy thì sẽ càng thêm dẫn chứng cho sự hiện diện của phong cách thơ, dòng thơ Văn khoa Tổng hợp có thể là có này. Theo thầy, cái phong cách ấy, cái dòng chảy, cái nét ấy có thể gọi lên như một sự lịch lãm, một nét hào hoa, một ý thức cẩn trọng và chau truốt trong ngôn ngữ… Về sau tôi nghĩ đến những người thơ được chắp cánh bay lên từ những mái nhà văn khoa sư phạm, viết văn Nguyễn Du – Khoa viết văn báo chí ĐH Văn hóa Hà Nội bây giờ… và băn khoăn về việc có thể có chăng những giao thoa, đồng điệu ở những con người gọi là có được đào tạo chính quy về lĩnh vực văn chương, về công việc văn bút?

Nhưng chỉ mơ hồ được thế thôi, vì đầu não mình vốn không dành cho việc suy luận ấy. Chỉ có những câu thơ của thầy Vĩ mà chúng tôi nhớ là lúc nào cũng tươi tắn, cũng đầy đặn, cũng… nồng nàn, cũng gợi nhiều tâm trạng. Và có thể thấy là chúng được vẽ nên từ những dồn nén chuyện đời, chuyện người, lại lồng vào việc suy tư câu chữ rất cẩn thận của thầy. Cho nên, như nhóm sinh viên làm thơ với nhau hồi ấy – tôi, Trần Trọng Dương, Bùi Việt Phương, Nguyễn Quốc Khánh, đã chia sẻ: đọc thơ thầy và một số cái tên khác, thấy sắp xếp cố tình và rất kỹ thuật nhưng lại rất tự nhiên, cứ như là chẳng có gì nhọc nhằn. Cho nên là chẳng riêng chúng tôi, một số bạn sinh viên các khoa khác, khi chúng tôi ra đi làm, ngồi bên nhau vẫn cùng đọc lại thơ thầy, càng thấy thú vị là khá nhiều người nhớ thế! Bài “Mạn Bắc” thì làm sao quên được: “…Tuểnh toảng trống chèo sương đắp lối/Hội làng Tấm Cám bận không đi/Em tắm giếng đồi trong lắt lẻo/Hoang mang da thịt mãn xuân thì//Sóng sắp tiền giấy trời vàng vó/Chín suối xuôi về Lục đầu giang/Ta hèn hóa ác làm em khổ/Yên Tử đùng đùng mây khói nhang”. Bài “Gửi chị” thì cứ bật lên mỗi khi tôi qua trường Đại học Tổng hợp ngày xưa trên phố Lê Thánh Tông: “…Gửi về cho chị Tây Hồ lạnh/Gió cố nhân lùa liễu ho khan/Khói hương Quán Thánh ngô lai nướng/Phố rắng rộng dài hai đi hoang…//Gửi về cho chị chốn này xưa/Lê Thánh Tông đường lay phay mưa/Bánh mỳ nóng rẫy hoa niên đói/Xuýt xoa nhau ngon tận bây giờ…”.

Tuổi sinh viên chúng tôi đã sống cùng những câu thơ như thế, và thấy lòng mình được thơ ấy nuôi, cũng như lửa thơ của mình nhen nhóm được lửa từ ấy thổi vào. Thỉnh thoảng, nhờ sự khởi xướng chủ yếu của thầy, sinh viên chúng tôi tham gia tổ chức và được được “tắm mình” vào một cuộc giao lưu thơ với một “sứ giả” nào đó của thế giới thơ ca, của một nơi chỉ có những tài năng khác người. Nói thế vì với đám lau nhau thích viết lách và hay động viên nhau sáng tác như chúng tôi, một nhà thơ là ghê lắm! Và những ấn tượng từ mỗi cuộc gặp họ thì thực sự như những cuộc khơi dòng hứng khởi.

Một hôm nào đó, khoảng năm 2001, trên hội trường tầng hai thư viện hồi chưa xây tòa nhà E tám tầng bây giờ, diễn ra cuộc giao lưu với nhà thơ Trần Anh Thái và trường ca “Đổ bóng xuống mặt trời” của ông. Chúng tôi vỗ tay đón nhà thơ đến, ông nhỏ gọn và quá đỗi giản dị. Lại thêm cả mấy nhà thơ nữa cũng đến và tôi có cảm giác choáng ngợp! Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều tham gia giao lưu, ông mặc áo phông, quần ga, đi dép đúc, tóc sau gáy buông hơi dài, ria mép đen rậm trông thật… không giống nhà thơ! Ông tung ra thí dụ một số câu thơ tình của một nhà thơ Mỹ La tinh: …Chân tay em như dây rừng quấn bện… Trong tóc em có đàn ong độc bay… để nói với các bạn trẻ làm thơ, hãy khác đi, hãy mới lên! Tôi thấy như một ô cửa lạ vừa bung mở!

Một tối khác mùa đông, hình như cuối năm 2001 hay có thể là 2000, nhà trường đã xây xong khối nhà H, bốn tầng, có hội trường đẹp, sinh viên khoa văn làm được một cuộc ở đấy. Có nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm đến, rất sôi nổi, khoát tay nói tưng bừng. Hồi đấy ngoài thơ và phim, anh đang thêm “nổi” trong “Gặp nhau cuối tuần” với biệt danh “Bác sĩ hoa súng”. Nhà thơ Băng Sơn lúc đó đã cao tuổi, lạnh thế mà vẫn quấn khăn choàng áo từ tận phố Ngô Thì Nhậm đến được với sinh viên, tóc trắng thưa thưa, bông bông, ông thong thả và điềm đạm. Anh Hoàng Nhuận Cầm dẫn một người Tây lai đến dự đêm thơ, tên là Dũng, khuôn mặt chú ấy buồn buồn, đọc thơ rất lành hiền. Xong chúng tôi đi uống rượu vỉa hè, ăn tiết luộc… ở chỗ cổng chợ Thượng Đình gần trường, và lại tiếp tục đọc thơ ở đấy nữa, lại nói chuyện sôi nổi, rất ghê! Tôi không lưu được những câu chuyện của chú Dũng, chỉ nhớ người chú dong dỏng, mặt chú gầy gầy, buồn buồn, nói với chúng tôi bằng giọng thì thào thân mật, chú kể chuyện mình như một người bị bỏ rơi. Nhiều năm sau hay gặp anh Cầm, anh uống bia với chúng tôi - các “ông em giai” làm thơ, hát ầm cả quán, anh vẫn thật sôi nổi! Anh anh chất vấn, anh tranh luận, anh phản biện, anh nói những dự định làm phim và đọc những câu thơ thật trẻ trung! Tôi hỏi về chú Dũng, anh nói chú đã mất vì ốm rồi. Tôi thấy thương và tự dưng tò mò về chú quá, muốn đọc nhiều thơ của chú hơn, nghe chú kể nhiều hơn để biết một chút về đời chú, cuộc đời khuất lấp của một người con lai ở lại Hà Nội.

Càng về sau thì thấy có thể với diễn giả nhà thơ hay ai đó quan sát bên ngoài, một cuộc giao lưu, nói chuyện có thể không quá hệ trọng. Nhưng với chúng tôi hồi tuổi chưa đầy hai mươi, nó có vẻ gì nao nức, hân hoan, lại pha cả chút bí ẩn nữa. Hồi mới vào năm thứ nhất - 1998, ngay trong những ngày đầu năm học, thầy Vĩ đã mời nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi đến nói chuyện, đọc thơ với lớp sinh viên non trẻ. Dạo đó tôi rất háo hức được nhìn thấy một nhà thơ “thật” ở trước mắt. Nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi có tuổi, người đậm, dáng cao lớn, ông lên giảng đường nói chuyện thơ, đọc thơ, đương nhiên là có bài “Qua Thậm Thình” mà chúng tôi được học hồi phổ thông. Tôi chỉ nhớ là có chuẩn bị sẵn hoa, nhà thơ cứ đọc xong một bài là một đứa “lao vào” tặng ông một bông trong tràng pháo tay của cả lớp đang rộ lên.

Một lần khác, không nhớ có phải năm 2000, TS nhà thơ Phạm Quốc Ca từ Đà Lạt ra Hà Nội hội họp, thầy Vĩ mời ông đến khoa với sinh viên. Thầy tự tay cắt giấy màu xanh, đỏ tên nhà thơ dán lên bảng phoóc. Cuộc gặp gỡ gọn gàng, ấm cúng trên phòng họp của văn phòng khoa vào một tối cuối thu lành lạnh. Sinh viên ngồi quanh chiếc bàn to dùng để ngồi họp. Tôi nhớ vẻ chăm chú khi TS Phạm Quốc Ca lắng nghe sinh viên đặt câu hỏi và đọc thơ cho ông nghe.

Lại có cả một cuộc đón nhà thơ Nguyễn Duy ở phòng đọc thư viện rất tưng bừng. Ông đọc những bài thơ kính thưa kính gửi Thị Nở, Thị Mầu, Mẹ Đốp… nghe rất hóm! Lại đến những câu như “Bao nhiêu con gái ngủ trong tuyết dày…” thì chúng tôi nhất quyết sau đó phải tìm mà đọc đi đọc lại. Bài thơ “Đánh thức tiềm lực” ông đọc làm chúng tôi “hãi” về sự thuộc một bài dài đến thế, dù ông là tác giả. Đặc biệt rất là lạ và thích, và cũng gai gai nhưng đầy hào hứng với những ý tứ tràn ngập ông đưa vào bài thơ. Có những câu mà tôi không thể quên được: “Hôn má bên này bật máu má bên kia…”, “Chúng ta nói nhiều về tiềm lực/Tiềm lực còn ngủ yên…”.

Những buổi nói chuyện, giao lưu thơ còn chưa được nhiều như mong muốn. Mặc dù ngay từ cái hôm đến nhà, thầy Vĩ đọc cho tôi hàng mấy trang gạch đầu dòng mà mỗi gạch là một dự kiến. Vì không phải lúc nào cũng đủ những điều kiện này khác về phương tiện và thời điểm. Nhưng thực sự như thế đã là rất quý giá cho chúng tôi, là một cách học hay, để lại những ấn tượng đẹp, gợi nhiều hứng khởi. Còn nhiều những bài thơ, câu thơ khác trong những tuyển tập thơ chúng tôi ngồi “lê la” dưới những bậc thềm hay mái hiện đâu đó trong sân trường đọc và “hí hửng” “vồ” được: “Nghe trong gió loạn xe hoa đến/Họ rước em rồi anh cưới đêm” thơ Lâm Huy Nhuận, “Để chiều nay chợt nghe gió nổi/Anh vội vàng đi đón lá thu rơi” thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường, “Anh đã qua những thành phố bọc vàng/Những thị trấn mẹ ôm con trên cỏ” thơ Hoàng Nhuận Cầm… Chúng, những câu thơ vụt sáng như những liều thuốc lạ đẩy lòng người bay vượt lên tức thời, và cũng càng thêm gây “nghiện” cho đám trẻ trai mê thơ chúng tôi.

Rồi những tối đến nhà thầy Vĩ, vài ly rượu nhỏ, thầy trò đọc thơ mới cho nhau nghe, ngoài sân theo từng mùa, lá bàng cứ theo nhau thay đổi. Lại cuộc khác nữa, chính là giờ học mà thầy cô khi giảng bài lại dẫn ra là những bài thơ, câu thơ như những tia sáng chợt rọi đến chúng tôi ở cái tuổi vụng về, rất dễ rơi vào cuộc véo von những câu chữ thiết tha, trìu mến theo kiểu chàng và nàng, gã và nhỏ, hay trang vở, ô mai, giỏ hoa xe đạp, tà áo sân trường... Thầy Đào Duy Hiệp giảng thơ siêu thực, giới thiệu bài thơ Apôline viết về vợ. Chúng tôi không thể hiểu vì sao ông viết kỳ dị, khó hiểu như thế, nhưng mà thấy cứ thấy lạ, thấy rất gợi hình, gợi cảm giác và dẫn suy nghĩ đi xa hơn thế: “…Vợ tôi có đôi mông của mùa xuân… Vợ tôi có cái lưỡi của loài rái cá không thể tin được…”. Trong một bài thơ rất dài của chính thầy Hiệp, tôi thích mấy câu ý là con chuồn chuồn đậu vào chiều như một chiếc nơ đỏ, rồi ký ức thì vừa đi vừa khóc… Thầy Phạm Xuân Thạch đột nhiên một hôm đọc mấy câu thơ Hoàng Cầm: “Chùa Phật Tích ruỗi trong màn lụa bạch/Tượng Quan Âm má ửng bồ quân/Chuông chiều cởi yếm/Chuông sớm đội khăn/Câu kinh tê tê/Mười ngón tay măng…”. Sau chúng tôi tìm photo tập thơ “Về Kinh Bắc” của ông để được ngỡ ngàng và sung sướng với những câu thật linh động: “Cúi lạy mẹ con trở về Kinh Bắc/Chiều xưa rẻ quạt voi lồng/Thân cau cụt vẫy đuôi mèo trắng mốc/Chuồn chuồn khiêng nắng sang sông…”.

Những câu chữ ấy lạ lùng, giàu sắc thái tình cảm, ẩn khuất nhiều tâm sự, đẩy trí tưởng tượng lên mạnh mẽ làm chúng tôi mê say! Không khí thơ ca được giăng lên trong năm tháng rất trẻ một thời, từ chính những người thầy – người thơ, giúp nuôi niềm tin lãng mạn và làm chỗ dựa cho những mường tượng phóng khoáng vào một đời sống nhân văn, nâng niu chữ nghĩa và tôn trọng người làm văn chương. Chúng tôi đã học sáng tác như thế, ở khoa văn!