Một thời gian dài đằng đẵng, ở khắp các làng quê xứ Nghệ - Tĩnh, dân ca ví, giặm nằm trong“kho ký ức”. Còn những “báu vật” gánh trên vai trách nhiệm trao truyền tinh hoa ví, giặm cho các thế hệ mai sau nay chỉ còn đếm được trên đầu ngón tay và chưa hề được hưởng chế độ gì. Nhiều khoảng trống trong công cuộc bảo tồn và chính sách phát huy giá trị di sản dân ca ví, giặm đang cần được lấp đầy.

Cô giáo Lê Thị Bích Thủy - một nghệ nhân trẻ hiếm hoi - truyền dạy cảm hứng dân ca cho học sinh. Ảnh: Q.Đ

Chỉ còn những người... sắp chết

Nghệ nhân Trần Văn Tư (87 tuổi) là người hát ví phường vải hay nức tiếng ở làng Hoàng Trù (Nam Đàn). Thuở nhỏ cụ Tư thường hay theo các anh, các chị đi nghe hát phường vải ở phường hát nổi tiếng của bà Hoàng Thị An - dì ruột của Bác Hồ. Qua cái tuổi chăn trâu, tối đến, cụ Tư làm khách hát đến các phường dệt vải đối đáp cho thỏa dạ. Cụ Tư bảo, tự xa xưa trên đất Nam Đàn, các bà, các cô tập trung ở nhà chủ phường quay xe, kéo sợi mỗi tối thì cũng là lúc những chàng trai kéo đến, cùng cất lên câu hát đối đáp giao duyên. Cuộc hát có khi diễn ra suốt đêm, những câu hát chào, hát hỏi, hát mời, hát nghĩa và hát tiễn khi tỉ tê, ngọt ngào, khi chơi chữ, đánh đố đối phương. Mặc dù có tính đối đáp giao duyên, nhưng theo cụ Tư thì hiếm người hát ví phường vải lấy nhau về làm vợ, làm chồng. “Hát ví phường vải có sự tham gia của những người có chữ, có tiền và ham mê. Quy cách, câu hát đối phức tạp hơn ví các phường khác. Do vậy mà một thời gian rất dài, ví phường vải rất ít người hát, dường như có lúc bị lãng quên” - cụ Tư nói.

Hơn 20 năm trước, cụ Tư tập hợp những bạn hát ngày xưa đứng ra thành lập câu lạc bộ (CLB) hát ví phường vải Kim Liên nhằm khôi phục, gìn giữ và truyền dạy cho lớp trẻ giữ truyền thống quê hương. CLB sôi nổi chừng được 10 năm thì hoạt động cầm chừng vì những người nắm rõ bài bản tuổi đã cao và ví phường vải không có sức hấp dẫn người trẻ nữa. “Quả thật thì có những anh học hát ví phường vải hơn 20 năm mà hát vẫn chưa chuẩn chứ chưa nói đến chuyện hát hay. Giờ những người biết hát như tui không còn nhiều nữa và đều sắp đi cả rồi” - cụ Tư thở dài.

Công chức văn hóa - xã hội xã Kim Liên Hoàng Thế Lực nói vui nhưng là điều khá thực tế rằng, người hát ví phường vải đúng bài bản ở Kim Liên bây giờ chỉ còn những người sắp chết. Nhiều thế hệ lớn lên đều rời làng quê, người đi học, kẻ lấy chồng xa, chỉ có “đui què mẻ sứt” và người già trụ lại ở xóm làng. Chúng tôi sực nhớ lời của cụ Nguyễn Huy Lâm (88 tuổi) nói với tôi hôm ở xứ ví Trường Lưu: “Thật tiếc cho ví phường vải quá. Lối hát, làn điệu cho đến bài bản hầu hết đều đã mất gốc”. Ở cái nôi ví, giặm Thanh Chương, suốt một thời gian dài, nghệ nhân Nguyễn Trọng Đổng cùng nhạc sĩ An Thuyên, Văn Thế ôm đàn ghita đi khắp các làng quê xứ Nghệ với khẩu hiệu “Chúng tôi hát cho bà con nghe, bà con hát cho chúng tôi nghe” để sưu tầm các bài bản gốc của dân ca xứ Nghệ lưu truyền trong dân gian. “Mỗi đêm có rất đông bà con đến hát cho anh em chúng tôi nghe. Không có máy móc hiện đại như bây giờ, đều phải ghi thủ công cả. Thời đó đam mê thì bỏ tiền túi dẫn nhau đi cả tháng trời vậy chứ có ai cấp kinh phí mô” - ông Đổng kể. Tài liệu dân ca ví, giặm ông chất đầy hàng tủ và điều khiến ông trăn trở nhất là một mai ông về với đất mẹ sẽ không có đội ngũ kế cận xứng đáng. “Thẳng thắn mà nói thì ở Thanh Chương, lứa kế cận hát ca, múa may quay cuồng thì hắn mần được, chứ kế cận về vốn liếng để nghiên cứu thì không có” - ông Đổng nói. Nhạc sĩ Lê Hàm - một chuyên gia sưu tầm, nghiên cứu về dân ca - thẳng thắn: “Bây giờ muốn sưu tầm dân ca như trước cũng không thể thực hiện được nữa, vì những nghệ nhân nắm vững các bài bản gốc và đang hát dân ca hầu hết đã qua đời”.

Khoảng trống thế hệ nghệ nhân kế cận

Trở lại câu chuyện nghệ nhân dân ca ví, giặm, khác với các lĩnh vực khác, thực tế lâu nay không ai sống được bằng câu hò, điệu ví bởi những lẽ mà chúng tôi đã nêu ở bài viết trước. Và hầu hết các nghệ nhân khi được hỏi đều tha thiết rằng rất cần một chính sách đặc thù của hai tỉnh Nghệ An - Hà Tĩnh để hỗ trợ họ. Nghệ nhân Hoàng Thị Cẩm Vân đề xuất: “Như tôi biên chế nhà nước, cuộc sống ổn định thì không nói làm gì, nhưng có nhiều nghệ nhân cuộc sống đang rất khó khăn. Tỉnh Nghệ An cũng nên quan tâm cho họ một hệ số lương cơ bản nào đấy, còn không nữa thì hỗ trợ cái thẻ bảo hiểm y tế để họ yên tâm dốc sức theo đuổi đam mê dân ca, truyền dạy cho thế hệ kế cận tiếp bước và lan tỏa”. Nghệ nhân Trần Khánh Cẩm (xã Kỳ Bắc, Kỳ Anh) - chủ nhiệm CLB dân ca Kỳ Bắc, một đời lặn lội sưu tầm, sáng tác và truyền dạy các làn điệu dân ca - trăn trở: “Nói thẳng là chính quyền địa phương (xã Kỳ Bắc) chưa hề cấp cho CLB của xã một đồng nào. Tất cả đều do tôi tự bỏ ra, rồi đi vận động, được người dân và một số cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp giúp đỡ ít nhiều để làm kinh phí “nuôi” CLB hoạt động”.

Chúng tôi hỏi ông Bùi Đức Hạnh - Giám đốc Sở VHTTDL tỉnh Hà Tĩnh - thì được biết, từ năm ngoái, tỉnh đã bước đầu hỗ trợ vật chất cho các CLB dân ca ví, giặm trên địa bàn hoạt động. Hội đồng nhân dân tỉnh cũng đã thông qua nghị quyết về chính sách hỗ trợ cho các nghệ nhân, CLB trong công cuộc bảo tồn phát huy các giá trị của di sản dân ca ví, giặm ở mức vài tỉ một năm. Còn NSƯT Phạm Tiến Dũng - Phó Giám đốc Sở VHTTDL tỉnh Nghệ An - nói rằng việc này đang là trăn trở của tỉnh, của ngành, bởi lâu nay các “báu vật” của dân ca ví, giặm tỉnh chưa có được chính sách hỗ trợ gì. Ông Dũng nói rằng bây giờ ví, giặm đã trở thành di sản văn hóa phi vật để đại diện của nhân loại và sắp tới sau khi hoàn thành việc phong tặng danh hiệu NSƯT cho các nghệ nhân dân gian, sở sẽ tham mưu chế độ cho các nghệ nhân.

Chúng tôi có cảm giác trong mấy năm qua, người ta cho ra đời đồng loạt các CLB ở hai địa bàn Nghệ An, Hà Tĩnh như là cách để vực dậy dân ca ví, giặm. Nhưng dường như những CLB này có tính chất như một đội văn nghệ cơ sở để tham gia các hội thi và hội diễn trên các sân khấu. Dân ca ví, giặm từ một loại hình nghệ thuật gắn liền với lao động - sinh hoạt có tính chất hồn nhiên bị sân khấu hóa đang là nỗi băn khoăn đối với những người quan tâm, dù ai cũng biết rằng không gian, đối tượng diễn xướng ngày xưa như phường vải, phường gặt, phường củi, phường nón... không tồn tại trong thực tiễn nữa.

Dù sao thì có còn hơn không, bởi vì nếu không có các CLB này, dân ca ví, giặm không biết sẽ “bấu víu” vào đâu. Một quy luật đã chứng minh rằng, nghệ nhân chính là linh hồn của các CLB. Những CLB dân ca nào có nghệ nhân tâm huyết và năng động thì hoạt động có sinh khí, còn ngược lại thì chỉ có danh chứ không có thực. Tiếp xúc với nhiều nghệ nhân, chúng tôi thấy được khoảng trống không nhỏ trong sự nối tiếp giữa các thế hệ nghệ nhân, những người đang và sẽ gánh trên vai trách nhiệm lưu giữ, phát huy và trao truyền các tinh hoa ví, giặm cho các thế hệ mai sau. Nghệ nhân Trần Thị Lý (Trường Lộc) thú thật rằng so với cha mình - nghệ nhân Ba Duy - vốn liếng của bà chỉ là một phần nhỏ. Trong khi đó, những gương mặt hậu sinh có thể kế cận vốn liếng và trọng trách nghệ nhân thì chưa thấy. Cụ Trần Khánh Cẩm mặc dù tự tin đã đào tạo được nhiều học trò hát hay, diễn giỏi, nhưng để tìm người kế tiếp với khả năng sáng tác, đạo diễn và bề dày thành tích như cụ thì không có.

Điều đáng băn khoăn nữa là các CLB phải làm gì để tự tồn tại, cũng là cách phát huy giá trị tốt nhất? Cô giáo Lê Thị Bích Thủy - CLB hát ví phường vải Kim Liên - cho biết từ lâu đã nung nấu ý tưởng xây dựng vở diễn phục vụ du khách ở di tích Làng Sen quê Bác. Cô Thủy dự tính nếu xây dựng được chương trình hay, hấp dẫn vẫn có thể có khoản thu từ tiền bán vé. Cô Thủy bảo rằng những điều kiện khác đều nằm trong tầm tay, khó nhất là kinh phí để biến ý tưởng thành hiện thực là chưa có đường xoay xở.

Chia tay các nghệ nhân, những câu hát ví, giặm được các cụ hát cho nghe còn luyến láy mãi trong tâm trí chúng tôi. Những “báu vật” của dân ca xứ Nghệ ai cũng hồn nhiên, bộc trực, đau đáu nỗi niềm cùng câu hát quê hương. Nỗi trăn trở lớn về bảo tồn, phát huy di sản dân ca ví, giặm vẫn còn đó, khi mà những khoảng trống về thế hệ nghệ nhân kế cận, chính sách đối với nghệ nhân, cũng như những giải pháp để phát huy sức lan tỏa của ví, giặm trong cộng đồng vẫn còn nhiều vế để ngỏ.