Trên thị trường địa ốc, nhà rao bán đủ loại, đủ kiểu, người mua phải đi tìm, phải xem từng căn nhà, săm soi từng ưu khuyết điểm trước khi quyết định mua. Người bán cũng phải làm mọi cách tìm cho ra người mua phù hợp với căn nhà đang muốn bán. Thị trường xe hơi, hàng điện tử, tiêu dùng... cũng vậy. Để cầu – cung gặp nhau chắc hẳn sẽ phải qua nhiều trở ngại, thậm chí tạo ra những xung đột thị trường. Giải Nobel Kinh tế 2010 sẽ nói rõ...

Theo lý thuyết thì cung và cầu trên thị trường sẽ gặp nhau ở một điểm hiệu quả, ở đó người bán và người mua đều cảm thấy hài lòng. Nhưng không phải lúc nào cũng đúng như thế. Phải khó khăn lắm, giao dịch giữa người mua và người bán mới được thực hiện sau một quá trình tìm kiếm có thể rất lâu dài và tốn kém. Đôi khi cung cầu thị trường hoàn toàn có thể không gặp nhau ở điểm hiệu quả, có khi còn chẳng đến được với nhau. “Search frictions” là gì? Những trở ngại trên như những vật cản khiến cầu - cung không tự động tìm thấy nhau, được gọi chung là mô hình “search frictions” (tạm dịch là sự tương tác trong tìm kiếm). Giải Nobel kinh tế năm nay được trao cho 3 vị giáo sư Peter A. Diamond (1940) – Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT - Mỹ); Dale T. Mortensen (1939) - Đại học Northwestern (Mỹ) và Christopher A. Pissarides (1948) - Trường Kinh tế và Chính trị London (Anh) chính là nhờ những nghiên cứu của họ về mô hình này – nơi người mua và người bán khó gặp được nhau. Lao động là thị trường tiêu biểu nhất của “search frictions” được 3 nhà khoa học đi sâu nghiên cứu. Ví dụ, tôi cần tuyển một người giữ trẻ nhưng không biết tìm ở đâu, quảng cáo thì tốn kém, chắc gì người tôi cần tìm đọc đúng thông tin đó; ngược lại, người muốn tìm công việc giữ trẻ cũng không biết tìm việc ở đâu, không biết chủ nhà có tử tế hay không... Như vậy, sẽ tồn tại những việc làm không có ứng viên trong khi vẫn có người thất nghiệp. Do đó, thị trường lao động có thể đưa đến những kết hợp không hiệu quả, thất nghiệp vẫn tồn tại cho dù người lao động sẵn sàng làm việc ở mức lương nhà tuyển dụng sẵn sàng trả. Trong thực tế, mọi vấn đề đều phức tạp hơn nhiều. Chẳng hạn, chính sách trợ cấp thất nghiệp có thể làm méo mó cung cầu, người có kỹ năng làm việc cao dễ kiếm việc làm hơn nhưng cũng eo xèo tiền lương nhiều hơn, tình hình thất nghiệp do chu kỳ kinh tế, hay thất nghiệp do sự bất tương xứng về cung cầu cho một kỹ năng nào đó... Tình trạng cung không gặp được cầu trong thị trường lao động, khiến việc tìm kiếm công ăn việc làm có thể mất rất nhiều thời gian và nguồn lực. Vì thế trên cơ sở lý thuyết này có thể áp dụng vào thị trường việc làm và nghiên cứu các chính sách nhằm cải thiện và đẩy nhanh tốc độ tìm kiếm việc làm. Từ đó, chỉ cần đưa chi phí tìm kiếm thậm chí rất nhỏ để có thể có tác động lớn vào việc cung cấp và nhu cầu được đáp ứng. Người ta cho rằng giải Nobel năm nay được chọn lựa có phần vì lý do nhiều nước phát triển ở châu Âu và Mỹ... đang đối mặt với tình trạng thất nghiệp kéo dài và tăng lên một cách nhanh chóng. Nghiên cứu còn cho thấy tại sao vài thập kỷ gần đây thị trường lao động châu Âu lại cứng nhắc hơn Mỹ. Bởi vì, tại nhiều nước châu Âu, khả năng thuê mướn và sa thải của doanh nghiệp bị hạn chế bởi chính sách. Việc thuê mướn và sa thải càng khó, thị trường lao động càng xơ cứng, kết quả là nhảy việc ít diễn ra và thất nghiệp dài hạn sẽ cao lên. Trợ cấp thất nghiệp không phải lúc nào cũng hay Một kết luận “gây sốc” của giải Nobel kinh tế 2010 đã trở thành chủ đề gây nhiều tranh cãi ở Mỹ. Đó là lần đầu tiên, trợ cấp thất nghiệp bị cho là một trong những “thủ phạm” gây ra tình trạng thất nghiệp như hiện nay. Trợ cấp thất nghiệp của Chính phủ càng hấp dẫn thì tỷ lệ thất nghiệp sẽ càng cao và thời gian tìm việc sẽ càng lâu hơn, vì nó đã giúp việc thất nghiệp trở nên dễ chịu hơn. Theo nghiên cứu, “phần lớn các mô hình cho thấy dù kinh tế có gặp đại suy thoái, trợ cấp thất nghiệp càng nhiều lại càng làm tăng tỷ lệ thất nghiệp. Trợ cấp là tốt với người thất nghiệp, nhưng rõ ràng cũng có sự đánh đổi.” Vì vậy, các nhà hoạch định chính sách nên nhớ rằng, các yếu tố quan trọng nhất trong cuộc chiến chống thất nghiệp là người thất nghiệp được nhận trở lại làm việc càng nhanh càng tốt. Điều này không chỉ đỡ tốn kém vì không phải đào tạo lại, mà còn giúp người lao động không mất mối liên kết với lực lượng lao động. “Search frictions” còn được áp dụng vào nhiều lĩnh vực khác như bất động sản, kinh tế công cộng, kinh tế gia đình, kinh tế học tài chính tiền tệ... và đặc biệt là hôn nhân gia đình. Chi phí li dị có thể hạn chế được số “người tình tiềm năng” cho các cặp đôi không hạnh phúc đang tính chuyện ly dị. An Sinh