Tám năm sau, nhìn lại kinh tế Mỹ, đâu là những thành tựu và thất bại của Tổng thống Obama trong hai nhiệm kỳ vừa qua?

Nhin lai kinh te My sau nhiem ky 8 nam cua Tong thong Obama - Anh 1

Nhìn lại kinh tế Mỹ sau nhiệm kỳ 8 năm của Tổng thống Obama. Ảnh: TTXVN

Lên cầm quyền vào lúc kinh tế Mỹ bước vào giai đoạn đen tối nhất, sau hai nhiệm kỳ Tổng thống, ông Barack Obama chuẩn bị rời Nhà Trắng với hơn 50% tỷ lệ được lòng dân nhờ ông đã vực dậy cỗ xe kinh tế, tạo thêm 15 triệu việc làm cho người dân.

Bên cạnh những thành tích đó, vẫn tồn đọng nhiều khó khăn mà vị Tổng thống da màu đầu tiên trong lịch sử Mỹ đã không thể vượt qua.

Gói kích cầu gần 800 tỷ USD

Tháng 1/2009, Barack Hussein Obama chính thức tuyên thệ nhậm chức, trở thành vị tổng thống thứ 44 của Mỹ. Kinh tế Mỹ suy thoái vì ba cuộc khủng hoảng diễn ra cùng lúc: bất động sản, tín dụng địa ốc dưới chuẩn; khủng hoảng trong ngành tài chính ngân hàng khi cổ phiếu bị tuột giá, và sự sụp đổ của ngành tài chính đã kéo nền kinh tế thực xuống vực thẳm.

Điển hình nhất là cả mảng công nghệ ô tô của Mỹ bị đe dọa. Hậu quả trực tiếp từ những biến cố dồn dập nói trên là 8 triệu người lao động mất việc làm, 7 triệu người bị tịch biên nhà ở, thị trường địa ốc đóng băng. Lần đầu tiên từ năm 1946, Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Mỹ trong năm 2009 giảm 2,4%.

Một chỉ số quan trọng khác là thị trường việc làm. Theo thống kê của Bộ Lao động Mỹ, chỉ riêng trong tháng 2/2009, hơn 650.000 người bị thôi việc, hơn 8% người lao động không có việc làm - tỷ lệ tồi tệ nhất kể từ năm 1983. Đến tháng 11/2009, thất nghiệp ở Mỹ vượt quá ngưỡng 10%. Trong suốt năm đầu tiên của nhiệm kỳ Obama, mỗi tuần hàng chục nghìn người bị sa thải.

Trước tình hình nguy kịch đó, tháng 2/2009, Tổng thống Obama thông qua kế hoạch kích cầu gần 800 tỷ USD với mục đích mở ra “điểm khởi đầu để tạo nên những nền tảng vững chắc, đưa nước Mỹ trở lại với con đường tăng trưởng dài lâu”, như chính ông tuyên bố trước khi hạ bút ký sắc lệnh cho gói kích cầu đó. Giáo sư Frank Khalifa thuộc Trường cao đẳng Billìeres,

Toulouse cho rằng khác với truyền thống trong học thuyết Keynes là thuần túy sử dụng ngân sách để kích cầu, Tổng thống Barack Obama đã vận dụng cùng một lúc ngân sách nhà nước và thuyết phục Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) nới lỏng chính sách tiền tệ, giữ lãi suất chủ chốt 0% trong nhiều năm. Ông nói trường phái theo học thuyết của Keynes bắt rễ tại châu Âu, trong khi đó, Mỹ luôn nghiêng về chủ nghĩa tự do.

Ngay cả trong chính sách kích cầu của Mỹ cũng có những khác biệt lớn so với châu Âu. Ở Mỹ, năm 2009, Tổng thống Barack Obama đã ban hành chương trình kích kích thích kinh tế trị giá 787 tỷ USD, tăng ngân sách nhà nước liên bang và bơm khoản tiền đó vào các hoạt động kinh tế, chủ yếu là tăng đầu tư công. Nhưng đồng thời ông Obama cũng thuyết phục Fed nới lỏng chính sách tiền tệ, và cả hai biện pháp này cộng lại đã giúp Mỹ nhanh chóng phục hồi.

Nhà báo chuyên theo dõi các hồ sơ kinh tế và chính sách đầu tư Laurent Hattchouel cũng cho rằng sự khéo léo của Tổng thống Obama là đã thuyết phục được cả Quốc hội lẫn Ngân hàng trung ương chung sức với Nhà Trắng.

Lãnh đạo Fed khi đó là Thống đốc Ben Bernanke, người được Chính quyền Bush bổ nhiệm, cho biết thành công rõ rệt nhất của Tổng thống Barack Obama là ông đã huy động được cùng lúc cả ngân sách nhà nước lẫn chính sách tiền tệ thuộc quyền hạn của Cục Dự trữ Liên bang. Thuyết phục được Quốc hội lưỡng viện thông qua một gói kích cầu gần 800 tỷ USD vào năm 2009 không phải là điều dễ dàng.

Trong số gần 800 tỷ USD nói trên, có tới 500 tỷ USD là để đầu tư vào các công trình công cộng. Nhờ gói đầu tư quan trọng đó mà các chỉ số kinh tế Mỹ đã khởi sắc sau giai đoạn khó khăn nhất kéo dài trong vòng 18 tháng.

Dù bênh hay chống chính sách kinh tế của ông Obama trong hai nhiệm kỳ tổng thống sắp bước vào hồi kết, không ai có thể phủ nhận một số thành tựu sau đây. Tỷ lệ thất nghiệp cao kỷ lục 11% năm 2011, nay đã rơi xuống mức thấp 5%, 15 triệu việc làm được kiến tạo.

Nhờ chính sách can thiệp của ông Obama, ngành công nghệ ô tô Mỹ đã hồi sinh và cứu được từ 1 triệu đến 3 triệu việc làm (tùy theo cách tính toán của các viện nghiên cứu) thông qua việc “quốc hữu hóa” hai tập đoàn GM và Chrysler. Kế hoạch bơm tiền cho khu vực kinh tế cũng mang lại hiệu quả nhờ các doanh nghiệp tăng cường đầu tư.

Song song với chương trình kích cầu, Chính quyền Obama còn hỗ trợ để các ngân hàng Mỹ không thiếu thanh khoản, và vẫn có thể cấp vốn cho các doanh nghiệp.

Một thành công khác của ông Obama được thể hiện qua thống kê về mức thâm hụt ngân sách nhà nước. Năm 2009 khi ông lên cầm quyền, thâm hụt ngân sách nhà nước tương đương với 9,8% GDP, hiện tại, tỷ lệ này rơi xuống còn 3,8% GDP. Nhìn đến chỉ số tăng trưởng, ông Barack Obama chuẩn bị rời Nhà Trắng vào lúc GDP của Mỹ tăng trưởng trở lại với tỷ lệ trên dưới 3%.

Tuy nhiên, để cứu nguy một cỗ máy kinh tế lớn như Mỹ, Washington đã phải huy động rất nhiều vốn, khiến nợ công của cả nước tăng lên, đang từ 75% đầu nhiệm kỳ thứ nhất, nay tỷ lệ này tương đương với khoảng 110% GDP của Mỹ.

Với ngành tài chính ngân hàng, đạo luật Dodd Frank được thông qua vào mùa hè 2010, nhưng chỉ chính thức có hiệu lực vào năm 2014, giúp tăng cường các biện pháp giám sát hoạt động ngân hàng, bảo vệ người tiêu dùng trước những sản phẩm tài chính có mức độ rủi ro cao.

Giới quan sát coi đây là một công cụ để chính quyền can thiệp sâu hơn vào lĩnh vực tài chính. Sau cơn ác mộng năm 2008, các ngân hàng Mỹ được coi là “ổn định”, với nhiều tập đoàn tên tuổi như JP Morgan hay Goldman Sachs bắt đầu có lãi trở lại.

Chủ tịch JP Morgan, Jamie Dimon, đã nhận được một khoản tiền thưởng hơn 25 triệu USD trong tài khóa 2015. Sáu năm sau khi ông Barack Obama “tuyên chiến” với những khoản tiền thưởng quá lố của các ông vua tài chính, những người được mệnh danh là “những con sói của Phố Wall” lại càng giàu thêm.

Tổng Giám đốc Goldman Sachs, Lloyd Blankfein cách đây 8 năm từ chối nhận tiền thưởng trước những trách nhiệm của tập đoàn ngân hàng này trong vụ khủng hoảng nhà đất, nhưng đến năm 2016, Blankfein vẫn được coi là một trong ba doanh nhân thế lực nhất. Tháng 4/2016, ông vua tài chính này chấp nhận nộp phạt 5 tỷ USD để khỏi bị tiếp tục truy tố về trách nhiệm trong cuộc khủng hoảng địa ốc Mỹ.

Trong tám năm nhiệm kỳ Tổng thống Obama, chỉ số chứng khoán Dow Jones và NASDAQ theo thứ tự đã được nhân lên gấp hai và gấp ba lần. Nhìn chung, giới tài chính Wall Street có nhiều thiện cảm với ông Barack Obama.

Obamacare và bất bỉnh đẳng xã hội

Về mặt xã hội, Tổng thống Barack Obama đi vào lịch sử nhờ đạo luật được biết dưới cái tên Obamacare, với ý tưởng nhà nước trợ cấp cho các thành phần nghèo khó nhất để mọi người đều được chăm sóc khi đau ốm.

Nhin lai kinh te My sau nhiem ky 8 nam cua Tong thong Obama - Anh 2

Tổng thống Barack Obama đi vào lịch sử nhờ đạo luật được biết dưới cái tên Obamacare. Ảnh: Difference Between

Đây là một trong những cam kết của ứng cử viên Tổng thống Barack Obama trong chiến dịch tranh cử của mình. Tháng 3/2010, Quốc hội Mỹ thông qua đạo luật gây nhiều tranh cãi này, và bốn năm sau, Obamacare chính thức có hiệu lực. Người ủng hộ thì cho rằng đây là một “tiến bộ lớn về mặt xã hội”.

Ngược lại, phe chống đối thì xem luật bảo hiểm mang tên vị tổng thống thứ 44 của Mỹ là một chương trình quá tốn kém.

Cho đến cuối năm 2015, mới chỉ có 20 triệu người trên tổng số 320 triệu dân Mỹ đóng bảo hiểm y tế trong khuôn khổ Obamacare, và chỉ có 83% số người đó được hưởng trợ cấp của chính phủ cho khoản chi tiêu phụ trội nói trên. Thêm một lý do khác để chỉ trích luật bảo hiểm y tế Mỹ là với Obamacare, kinh phí bảo hiểm đã tăng mạnh, sức mua của các hộ gia đình qua đó giảm đi.

Theo cơ quan thống kê dân số Mỹ, vẫn còn trên 9% dân Mỹ không có bảo hiểm y tế. Cũng vì luật bảo hiểm Obamacare mà trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ 2010, đảng Dân chủ đã thua đậm.

Một thất bại khác về phương diện xã hội trong hai nhiệm kỳ Obama là sự cách biệt giàu nghèo tại Mỹ ngày càng lớn. Năm 2009, 1% những người giàu nhất nắm giữ 16,7% tổng sản phẩm của cả nước. Khi Tổng thống Barack Obama sắp mãn nhiệm, tỷ lệ đó tăng lên tới 18,4%.

Nhà báo chuyên theo dõi các hồ sơ kinh tế và chính sách đầu tư Laurent Hattchouel đánh giá bất công xã hội là nguyên nhân khiến cử tri Mỹ dễ dàng nghe theo các luận điểm của nhà tỷ phú New York Donald Trump.

Theo chuyên gia này, tỷ lệ người nghèo ở Mỹ đã tăng lên sau hai nhiệm kỳ của ông Obama. Nếu như vị tổng thống thứ 44 của nước Mỹ này thành công trên mặt trận kinh tế thì ngược lại, trong lĩnh vực xã hội, tầng lớp trung lưu đã nghèo đi trong hai nhiệm kỳ tổng thống của ông. Nước Mỹ đang trong giai đoạn phi công nghiệp hóa.

Có 320 triệu dân Mỹ, 150 triệu công ăn việc làm, 80% trong số đó hướng về khu vực dịch vụ, chỉ có 15% làm việc trong ngành công nghiệp, 5% là nông gia. Vấn đề đặt ra là trong lĩnh vực dịch vụ, lương của nhân viên trong tám năm qua không tăng, hay có tăng thì rất tăng rất chậm.

Vào những tuần lễ cuối của ông Barack Obama ở Nhà Trắng, khoảng cách giàu nghèo ở Mỹ đã lớn hơn so với tám năm trước, xã hội Mỹ vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức, từ vấn đề nhập cư, đến khác biệt về màu da và chủng tộc. Nhưng xét cho cùng, có lẽ thất bại lớn nhất của ông Obama trong hai nhiệm kỳ vừa qua là đã không đáp ứng được tất cả những chờ đợi quá lớn của 320 triệu dân Mỹ, trong lúc công luận Mỹ và cả thế giới thì lại kỳ vọng quá nhiều vào vị tổng thống thứ 44 này./.