Bộ Công an được kiến nghị vào cuộc nhằm điều tra, làm rõ các dấu hiệu cố ý làm trái và thiếu trách nhiệm trong quá trình triển khai dự án Nhà máy sản xuất xơ sợi polyester Đình Vũ.

Mới đây, Thanh tra Chính phủ (TTCP) đã có kết luận thanh tra về việc đầu tư xây dựng dự án Nhà máy sản xuất xơ sợi polyester Đình Vũ do Công ty Cổ phần Hóa dầu và Xơ sợi Dầu khí (PVTex) làm chủ đầu tư. Dự án này có tổng vốn đầu tư lên đến 325 triệu USD nhưng liên tục thua lỗ và đã ngừng hoạt động từ năm 2015 đến nay.

Theo TTCP, vào năm 2007, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petro Vietnam) ký thỏa thuận hợp tác Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) để thực hiện dự án xơ sợi Đình Vũ có địa chỉ tại khu kinh tế Đình Vũ, Hải Phòng. PVTex là một pháp nhân được hai bên lập ra để quản lý dự án, đồng thời làm chủ đầu tư. Dự án có tổng mức đầu tư 325 triệu USD, tương đương khoảng hơn 5.400 tỉ đồng (tính theo tỷ giá năm 2008) với 30% là vốn chủ sở hữu, còn lại đi vay.

Nhieu sai pham tai du an xo soi nghin ty: Thanh tra Chinh phu kien nghi Bo Cong an vao cuoc - Anh 1

Nhà máy sản xuất xơ sợi polyester Đình Vũ đã ngừng hoạt động từ cuối 2015 đến nay

Dự kiến Nhà máy sản xuất xơ sợi polyester Đình Vũ có công suất 500 tấn xơ sợi/ngày và theo tính toán sẽ hoàn vốn toàn bộ sau thời gian 8 năm 8 tháng. Vào tháng 8/2013, dự án được nghiệm thu sơ bộ và đi vào sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên từ đó đến nay, dự án này liên tục lỗ.

Cụ thể, năm 2012 lỗ hơn 21 tỉ đồng; năm 2013 lỗ 366 tỉ đồng và năm 2014 lỗ 1.085 tỉ đồng. Với tổng số lỗ trong 3 năm là 1.472 tỉ đồng đến cuối năm 2015 thì dự án này phải dừng hẳn hoạt động. Cũng theo báo cáo của PVTex, tổng mức đầu tư cho dự án từ dự kiến ban đầu đến khi triển khai trên thực tế đã bị nâng lên thành hơn 359 triệu USD. Dự kiến thời gian hoàn vốn lên tới gần 23 năm.

TTCP cho rằng, nguyên nhân khiến dự án thua lỗ và hoạt động không có hiệu quả có những nguyên nhân khách quan là thị trường tiêu thụ khó khăn, biến động giá nhiên liệu, lãi suất ngân hàng cao… nhưng về chủ quan, cả PVN và Vinatex đều có nhiều thiếu sót, khuyết điểm.

Nếu như ban đầu (2008), vốn điều lệ của PVTex chỉ là 160 tỉ đồng, trong đó PVN góp 39%, thì sau nhiều lần điều chỉnh đã tăng đến 2.000 tỉ đồng vào năm 2014. Trong quãng thời gian đó, PVN đã bỏ tiền ra mua lại cổ phần từ các cổ đông khác để tăng tỷ lệ góp vốn ngày càng cao. Đến cuối năm 2014, toàn bộ 100% vốn góp tại PVTex là của PVN và các đơn vị thành viên.

Hậu quả của việc trên đã khiến PVN đang phải gánh chịu toàn bộ khoản công nợ đã vay để thực hiện dự án cũng như khoản lỗ gần 1.500 tỉ đồng của nhà máy. Năm 2013, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu PVN phải thoái vốn khỏi PVTex từ 56% xuống 36%. Tuy nhiên những quyết nghị của Bộ Công thương và các nghị quyết của PVN lại đi theo hướng ngược lại khi đẩy tỷ lệ vốn PVN tại PVTex tăng từ 56% lên 75%.

Không những thế, TTCP còn chỉ ra nhiều sai phạm khác trong quá trình triển khai thực hiện dự án. Có thể kế đến như PVTex đã không tổ chức thẩm định, tính toán kỹ, tăng tổng mức đầu tư không đúng với chi phí, tính sai chi phí… trị giá khoảng 38,7 triệu USD dẫn đến dự án bị đội vốn lên hơn 363 triệu USD. Việc mua thiết bị không tuân thủ theo quy định của hợp đồng, tự ý thay đổi nguồn gốc xuất xứ nhiều thiết bị. Ngoài ra, nhiều thiết bị sau khi nhập về sử dụng đã bị hỏng hóc, đây là nguyên nhân dẫn đến việc nhà máy thử nghiệm kéo dài, sản phẩm không đạt chất lượng chiếm tỷ lệ cao.

Trong kết luận của mình, TTCP đã kiến nghị Thủ tướng chỉ đạo các bộ, ngành có liên quan xử lý về kinh tế 54 tỉ đồng và hơn 22.000 USD do nghiệm thu thanh toán sai, trùng lắp trong quá trình triển khai dự án Nhà máy sản xuất xơ sợi polyester Đình Vũ. Đồng thời yêu cầu PVTex xử lý dứt điểm các tranh chấp do thay đổi nguồn gốc xuất xứ thiết bị, vật tư.

TTCP cũng yêu cầu xử lý trách nhiệm hành chính đối với các tổ chức, cá nhân tại Bộ Công thương, PVN và Vinatex vì đã thiếu trách nhiệm trong vai trò quản lý nhà nước, trong việc góp vốn, nhận góp vốn, chuyển nhượng không đúng quy định pháp luật.

Ngoài ra, TTCP cũng kiến nghị Bộ Công an vào cuộc nhằm điều tra, làm rõ các dấu hiệu cố ý làm trái và thiếu trách nhiệm trong việc phê duyệt dự án, lựa chọn nhà thầu, ký kết hợp đồng với nhà thầu gây thất thoát, lãng phí vốn đầu tư tại dự án trên.