Những kết quả rà soát pháp luật về quản lý chuyên ngành của Tổng cục Hải quan, các chuyên gia của dự án USAID-GIG, VCCI trong thời gian qua đã chỉ ra nhiều văn bản pháp luật còn chưa mang lại hiệu quả.

Nhieu quy dinh kiem tra chuyen nganh dang can tro doanh nghiep - Anh 1

Công chức Chi cục Hải quan CKSBQT Nội Bài kiểm tra hàng hóa XNK. Ảnh: N.Linh.

Qua rà soát mới đây của VCCI, các quy định tại Luật Tiêu chuẩn quy chuẩn kỹ thuật (TCQCKT) và Thông tư 28/2012/TT-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ thì mỗi sản phẩm, hàng hóa thuộc đối tượng phải áp dụng quy chuẩn kỹ thuật phải được công bố sản phẩm, hàng hóa đó phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật tương ứng. Theo VCCI, đây là quy định đúng, nhưng còn thiếu nên trở thành quá mức cần thiết khi áp dụng cho hàng hóa NK. Với sản phẩm, hàng hóa sản xuất trong nước, quy định này là phù hợp, bởi mỗi sản phẩm/mã hàng/model hàng chỉ được sản xuất bởi một nhà sản xuất, nên nó chỉ phải chứng nhận, công bố hợp quy một lần (có giá trị hiệu lực trong 3 năm theo quy định tại tiết a khoản 2 Điều 15 Thông tư 28/2012/TT-BKHCN).

Đối với hàng hóa NK thì khác: Một mặt hàng/model hàng của một nhà sản xuất nước ngoài được NK bởi nhiều người ở Việt Nam, dẫn đến một mặt hàng/model hàng của cùng một nhà sản xuất, cùng lô sản xuất, cùng các chỉ tiêu, thông số kỹ thuật nhưng về Việt Nam phải chứng nhận, công bố hợp quy rất nhiều lần. Để chứng nhận hợp quy, sản phẩm phải được thử nghiệm, có thể phải phá hủy, gây lãng phí lớn. Bên cạnh đó, thủ tục hợp quy trên áp dụng đối với cả những mặt hàng công nghệ cao, có chất lượng cao, tiêu chuẩn thế giới, của các nhà sản xuất lớn, các nhãn hiệu nổi tiếng toàn cầu.

Giải pháp được đơn vị nghiên cứu đưa ra là cần bổ sung Luật TCQCKT theo hướng một mặt hàng/model hàng của cùng một nhà sản xuất nước ngoài, nếu thuộc đối tượng phải áp dụng quy chuẩn kỹ thuật, khi NK vào Việt Nam chỉ phải làm thủ tục chứng nhận, công bố hợp quy một lần đối với lô hàng NK đầu tiên. Nếu phù hợp quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam, các lần NK sau (của tất cả mọi người NK) không phải thực hiện thủ tục này.

Liên quan đến việc đánh giá hiệu quả thực hiện quy định về thủ tục kiểm tra chất lượng đối với hàng NK theo lô hàng, theo VCCI, tại Điều 34 Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa (CLSPHH), Thông tư 27/2012/TT-BKHCN, Điều 38 Luật An toàn thực phẩm (ATTP), Thông tư số 07/2012/TT-BCT thì thủ tục kiểm tra chất lượng đối với hàng NK phải được thực hiện đối với từng lô hàng dẫn đến một mặt hàng phải kiểm tra đi, kiểm tra lại nhiều lần, với thủ tục và kết quả kiểm tra như đã làm với các lô hàng trước. Trong khi đó, theo kết quả khảo sát tại nhiều đơn vị Hải quan, nhiều DN trong 3 năm liền (từ 2014 đến 2016) của dự án USAID-GIG, tỷ lệ các trường hợp hàng hóa không đạt chất lượng, tiêu chuẩn, quy chuẩn chưa bao giờ tới 1% tổng số lô hàng được kiểm tra. Với kết quả đó, phần nào cho thấy quy định kiểm tra chuyên ngành đối với từng lô hàng là một quy định ít hiệu quả, quá mức cần thiết.

Cũng liên quan đến Luật CLSPHH, tại khoản 15 Điều 3 và Thông tư số 27/2012/TT-BKHCN hướng dẫn Luật này thì để hoàn thành thủ tục kiểm tra chất lượng hàng hóa NK, người NK phải làm thủ tục tại 2 cơ quan, đơn vị là tổ chức giám định và cơ quan kiểm tra nhà nước về chất lượng: Tổ chức giám định thực hiện việc giám định, kết luận về chất lượng hàng hóa; cơ quan kiểm tra chất lượng căn cứ kết quả giám định để ban hành thông báo lô hàng đạt/không đạt chất lượng NK. Tuy nhiên, trên thực tế, cơ quan Hải quan và doanh nghiệp cho rằng, việc quy định phải qua bước 2 để ra kết quả kiểm tra là không cần thiết vì sẽ gây kéo dài thời gian thông quan và tăng chi phí cho doanh nghiệp. Một số Bộ đã có các biện pháp rút ngắn quy định này bằng cách chỉ định hoặc ủy quyền tổ chức đánh giá sự phù hợp thực hiện đánh giá sự phù hợp và ra kết quả kiểm tra (riêng đối với mặt hàng thép và các mặt hàng thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ hiện nay vẫn thực hiện kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa theo 2 bước như quy định tại Luật CLSPHH). Chính vì vậy, cần sửa đổi lại định nghĩa “kiểm tra nhà nước về chất lượng” theo hướng bãi bỏ việc kiểm tra chất lượng phải trải qua 2 bước, do 2 cơ quan, đơn vị tiến hành, thay vào đó quy định cơ quan, đơn vị kiểm tra cũng đồng thời là ban hành thông báo hàng hóa đạt hay không đạt chất lượng NK. Thông báo được chuyển thẳng tới Cổng thông tin một cửa quốc gia trong trường hợp tổ chức thử nghiệm, giám định đã tham gia; hoặc chuyển trực tiếp tới cơ quan Hải quan cửa khẩu bằng đường điện tử trong trường hợp tổ chức thử nghiệm, giám định chưa tham gia.

Ngoài ra, quy định tại một số văn bản luật khác cũng chưa phát huy hiệu quả như quy định về xác nhận khai báo hóa chất; thủ tục dán nhãn năng lượng...

Tiếp tục vai trò chủ trì, phối hợp, giám sát việc thực hiện các nhiệm vụ Thủ tướng Chính phủ giao trong Đề án Giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa XK, NK, trong các ngày từ 22-11 đến 26-11, Tổng cục Hải quan tổ chức đợt làm việc chuẩn hóa Danh mục hàng hóa XK, NK thuộc diện quản lý chuyên ngành. Đợt làm việc có sự tham gia của đại diện các đơn vị Hải quan địa phương, một số bộ (Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Quốc phòng, một số đơn vị thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công Thương).

Nội dung tập trung rà soát, áp mã HS các Danh mục hàng hóa thuộc diện quản lý chuyên ngành; rà soát tiến độ và kết quả triển khai Quyết định 2026/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa XK, NK.

Ngọc Linh