Trang 1 / 2

Việt Nam nhập siêu từ Hàn Quốc khoảng 8,46 tỉ USD, chỉ sau đối tác Trung Quốc, tương đương 83% tổng giá trị nhập siêu năm 2011. Điều đáng nói là nguy cơ nhập siêu đang gia tăng mà chưa có biện pháp rõ rệt nào để cải thiện. NCĐT đã trao đổi với ông Đặng Xuân Thanh, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, xung quanh vấn đề này.

Vì sao nhập siêu từ Hàn Quốc lại ngày càng tăng, thưa ông?

Nguyên nhân cơ bản nhất là sự mất cân đối về cơ cấu kinh tế của Việt Nam và đây là điều không thể thay đổi một sớm một chiều. Mặc dù Việt Nam xuất siêu lớn sang Nhật và Mỹ, nhưng xét về tổng thể thì vẫn là nhập siêu. Điều này tác động đến cán cân vãng lai, lạm phát, tiêu dùng.

Yếu tố quan trọng thứ hai là sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam chậm được cải thiện, dẫn đến năng lực cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường thế giới cũng kém hơn nhiều nước, khiến khó xuất khẩu hơn. Điều đó cũng dẫn đến nhập siêu.

Cụ thể là cơ cấu thương mại của Việt Nam mất cân đối như thế nào?

Sự mất cân đối về cơ cấu thể hiện ở chỗ hàng xuất sang Hàn Quốc chủ yếu là sản phẩm thô như dầu, than, cao su, thủy hải sản, nhưng Việt Nam lại nhập các sản phẩm tinh chế từ dầu lửa, linh kiện để doanh nghiệp Hàn Quốc tại Việt Nam lắp ráp, nhập khẩu hàng hóa tiêu dùng cuối cùng từ chăn, tấm trải giường, gối, nệm đến sản phẩm xa xỉ như ôtô.

Hàn Quốc cũng có chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu. Năm 2011, Hàn Quốc đã trở thành 1 trong 9 nước có giá trị thương mại vượt 1.000 tỉ USD. Quốc gia này hiện cũng là đối tác thương mại lớn thứ tư của Việt Nam. Rõ ràng, nếu Việt Nam không sớm thay đổi cơ cấu thì càng tăng trưởng thương mại bao nhiêu, nguy cơ nhập siêu sẽ càng tăng lên bấy nhiêu.

Hiệp định thương mại tự do giữa Hàn Quốc và ASEAN (năm 2009) đã khiến nhập siêu của Việt Nam tăng mạnh. Có lẽ chúng ta đã tính toán chưa tốt về thời điểm, khiến bị lép vế về lợi ích so với những gì doanh nghiệp Hàn Quốc đạt được?

Tôi không nghĩ rằng chúng ta không tận dụng được cơ hội từ hiệp định này. Bằng chứng là năm 2011 xuất khẩu của Việt Nam sang Hàn Quốc tăng rất mạnh, trên 50%, đạt 4,6 tỉ USD. Trong khi đó, nhập khẩu chỉ tăng 32%. Nghĩa là mặc dù nhập siêu lớn, nhưng Việt Nam cũng đã gia tăng được xuất khẩu vào Hàn Quốc.

Tuy nhiên, nếu vẫn chỉ là mức tăng như thế thì tình trạng nhập siêu sẽ khó được cải thiện. Đặc biệt trong bối cảnh hậu khủng hoảng, các nước đang đẩy mạnh tái cấu trúc thì Hàn Quốc cũng vậy. Sau khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997-1998, Hàn Quốc đã rất thành công trong tái cấu trúc. Lần này, họ bị tác động ít và đã kịp thời khôi phục đà tăng trưởng.

Các doanh nghiệp Hàn Quốc cũng đang lột xác và có sức cạnh tranh cao. Samsung, chẳng hạn, đang cạnh tranh rất mạnh trên thị trường điện tử thế giới. Ở Việt Nam, giá trị xuất khẩu của công ty này đã đạt gần 5 tỉ USD (năm 2011). Điều này cho thấy hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp nước này là rất lớn. Tuy nhiên, họ lại nhập khẩu một lượng linh kiện lớn từ nước họ để sản xuất, bán sản phẩm tại Việt Nam và xuất khẩu.

Rõ ràng, nếu chúng ta không tái cấu trúc nền kinh tế, không đẩy mạnh sản xuất linh kiện, công nghiệp hỗ trợ thì sẽ không cải thiện được tình hình.

Hàn Quốc là đối tác đầu tư nước ngoài lớn của Việt Nam. Nhưng doanh nghiệp Việt lại không thể cung cấp linh kiện cho họ. Theo ông, nên làm gì để cải thiện điều này?

Mặc dù chúng ta rất cần các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhưng nếu cứ thu hút vốn bằng những ưu đãi về đất đai, tài nguyên, giá nhân công rẻ thì sẽ không hiệu quả. Bởi vì như thế, chúng ta đã bán rẻ tiềm năng mà chỉ thu được giá trị gia tăng thấp. Đó là chưa nói đến chuyện chuyển giá để trốn thuế.

Chúng ta không thể thu hút đầu tư bằng mọi giá, mà nên lựa chọn để giúp Việt Nam tiến nhanh trong chuỗi giá trị toàn cầu. Nghĩa là không thể dừng lại ở việc lắp ráp như 10-15 năm vừa qua. Gần đây, Samsung đã mở rộng hoạt động lắp ráp ở Việt Nam nhưng doanh nghiệp trong nước chỉ cung cấp được bao bì, dịch vụ in ấn... Còn hàng loạt chi tiết, linh kiện đều được nhập khẩu từ Hàn Quốc hay lấy từ doanh nghiệp vệ tinh của họ tại Việt Nam.

Nếu dừng lại ở đây, chỉ vài năm nữa, các nước như Campuchia, Bangladesh sẽ tiến tới trình độ lắp ráp như Việt Nam. Khi ấy, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ chuyển cơ sở sang các nước đó. Nếu chuyện này xảy ra, lao động Việt Nam sẽ như thế nào?

Trang 1 2 Trang kế tiếp