Bên cạnh việc thuế nhập khẩu ngày càng giảm theo cam kết trong các hiệp định thương mại tự do (FTA), việc các đối tác FTA đang là các nhà đầu tư lớn tại Việt Nam, cũng như năng lực cạnh tranh yếu của doanh nghiệp trong nước... được cho là nguyên nhân khiến nhập khẩu của Việt Nam từ các đối tác này ngày càng tăng cao.

Nhap sieu tu doi tac FTA tang cao, do dau? - Anh 1

Việt Nam có nhu cầu nhập khẩu nhiều máy móc thiết bị, nguyên phụ liệu... Ảnh: THÀNH HOA

Tình trạng nhập siêu của Việt Nam trong những năm gần đây nhìn chung đã được cải thiện. Trong chín tháng đầu năm nay Việt Nam xuất siêu gần 3,72 tỉ đô la Mỹ. Nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc cũng giảm nhẹ trong thời gian gần đây, nhưng lại tăng cao từ Hàn Quốc và các nước ASEAN.

Nhập siêu với Hàn Quốc, ASEAN ngày càng tăng

Theo Tổng cục Hải quan, trong nhiều năm qua, Việt Nam liên tiếp nhập siêu từ Hàn Quốc nhưng đáng chú ý là mức thâm hụt thương mại này ngày càng tăng. Cụ thể, trong năm 2010, mức nhập siêu của Việt Nam từ Hàn Quốc là 6,67 tỉ đô la Mỹ. Mức nhập siêu từ nước này đã lên đến 18,71 tỉ đô la Mỹ vào năm 2015 và trên 13 tỉ đô la Mỹ trong tám tháng đầu năm nay.

Số liệu của Tổng cục Hải quan thống kê từ năm 2004 đến nay cũng cho thấy, Việt Nam liên tục nhập siêu từ khu vực ASEAN, và tình trạng này được cải thiện rõ nét trong những năm 2012-2014, với mức nhập siêu 9,2 tỉ đô la Mỹ trong năm 2008 giảm xuống còn 3,2 tỉ đô la Mỹ và 4 tỉ đô la Mỹ lần lượt trong năm 2013 và 2014.

Tuy nhiên, thâm hụt thương mại giữa Việt Nam với ASEAN đang tăng trở lại, với mức nhập siêu khoảng 5,5 tỉ đô la Mỹ trong năm 2015 và đã đến 4,5 tỉ đô la Mỹ chỉ trong chín tháng đầu năm nay. Trong đó, Việt Nam nhập siêu 3,3 tỉ đô la Mỹ từ Thái Lan, 1,4 tỉ đô la Mỹ từ Malaysia, và 1,8 tỉ đô la Mỹ từ Singapore. Việt Nam chỉ xuất siêu dưới 1 tỉ đô la Mỹ với Campuchia và Philippines.

Riêng đối với Thái Lan, lượng ô tô nguyên chiếc nhập khẩu từ nước này sang Việt Nam ngày càng tăng cao, chủ yếu do thuế suất nhập khẩu ô tô từ ASEAN đang giảm dần theo cam kết của Việt Nam trong Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA). Với Hàn Quốc, bên cạnh hiệp định giữa ASEAN và Hàn Quốc, vào tháng 12-2015, Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Hàn Quốc (VKFTA) bắt đầu có hiệu lực cũng giúp hàng hóa từ nước này, đặc biệt máy móc thiết bị, nguyên phụ liệu... có thuế nhập khẩu vào Việt Nam thấp hơn, thậm chí về 0% ngay lập tức.

Tuy nhiên, nhìn chung, nhập khẩu của Việt Nam từ các nước trên chủ yếu là nguyên phụ liệu đầu vào phục vụ sản xuất trong nước, như máy vi tính và sản phẩm điện tử, máy móc thiết bị, dụng cụ và phụ tùng, điện thoại và linh kiện, vải các loại... Trong đó, đối với ASEAN, năm nhóm hàng (gồm xăng dầu các loại, gỗ và sản phẩm gỗ, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, hóa chất) chiếm hơn 35% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ khu vực này.

Chủ yếu do vấn đề nội tại

Tình trạng nhập siêu từ các nước đối tác FTA liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng như sự lựa chọn đối tác và công nghệ.

Theo Tiến sĩ Võ Trí Thành, nguyên Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), trong thương mại của Việt Nam, về tổng thể, rõ ràng nhập siêu của Việt Nam hiện đã giảm, thậm chí thặng dư như chín tháng đầu năm nay, và áp lực cũng giảm rất nhiều so với thời gian năm năm đầu gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).

Cơ cấu nhập khẩu của Việt Nam chủ yếu gồm ba cấu phần chính. Đó là hàng vốn đầu tư, tức thiết bị máy móc, nguyên liệu - hàng trung gian và hàng tiêu dùng cuối cùng. Trong những năm qua, về cơ bản, máy móc thiết bị chiếm khoảng 30% nhập khẩu của Việt Nam, hàng nguyên liệu chiếm khoảng 60% (trong đó chủ yếu là hàng trung gian), và hàng tiêu dùng cuối cùng chiếm khoảng 10%.

Hàn Quốc, ASEAN, và Trung Quốc là ba đối tác mà Việt Nam nhập siêu nhiều nhất. Trong đó, hàng hóa Việt Nam nhập khẩu nhiều nhất từ những nước này là thiết bị máy móc, hàng hóa trung gian... Trung Quốc là nước cung cấp nhiều nhất hàng hóa trung gian cho Việt Nam.

Theo Tiến sĩ Võ Trí Thành, tình trạng nhập siêu từ các nước này liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng như sự lựa chọn đối tác và công nghệ. Hiện các nước đầu tư lớn nhất tại Việt Nam là từ những nước trên, tức Hàn Quốc, Trung Quốc và ASEAN.

Với Trung Quốc, việc Việt Nam nhập khẩu nhiều thiết bị máy móc trong thời gian qua chủ yếu liên quan đến các dự án đấu thầu mà Trung Quốc thắng thầu. Ngoài ra, một phần rất lớn đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam, không chỉ của doanh nghiệp nhà nước mà còn của hàng ngàn doanh nghiệp tư nhân, cũng đang nhập khẩu máy móc thiết bị từ Trung Quốc để phục vụ sản xuất.

Việc nhập khẩu nhiều hàng hóa trung gian từ các nước trên cũng phản ảnh thực tế Việt Nam đang tham gia vào mạng sản xuất toàn cầu, nên hàng trung gian được nhập khẩu về Việt Nam lắp ráp để thành sản phẩm cuối cùng nhằm xuất khẩu sang các thị trường như Mỹ, châu Âu... và một phần được tiêu dùng trong nước. Thêm vào đó, việc này cũng cho thấy công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam còn yếu, do đó mặc dù tham gia mạng sản xuất nhưng giá trị gia tăng thấp.

“Đằng sau đấy là khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam còn yếu. Điều này có thể là không quá tồi trong một giai đoạn, nhưng nếu cứ kéo dài mãi thì đây là điều không tốt, hay còn gọi là bẫy lao động giá rẻ”, ông Thành cho biết.

Đối với việc nhập khẩu hàng tiêu dùng, theo ông Thành, nhìn chung Việt Nam tương đối cân bằng về thương mại với Trung Quốc, nếu tính cả thương mại tiểu ngạch...

Đối với ASEAN, Việt Nam nhập siêu không nhiều từ khu vực này, nhưng riêng với một số mặt hàng, và với một số nước như Thái Lan thì Việt Nam không những nhập siêu mà mức nhập siêu đang tăng lên. Việc này, theo ông Thành, có thể liên quan đến thực tế người tiêu dùng Việt Nam đang có thu nhập ngày càng tăng lên, kéo theo nhu cầu tiêu dùng hàng xa xỉ, đắt tiền, như ô tô... Việc nhập khẩu nhiều hàng tiêu dùng này cho thấy năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam chưa cao, và hàng Việt chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng tốt hơn của bộ phận người tiêu dùng trong nước.

Bên cạnh các yếu tố trên, ông Thành cho rằng, cán cân thương mại nói chung của Việt Nam cũng liên quan nhiều đến kinh tế vĩ mô, vì cán cân thương mại phản ánh cân đối giữa tiết kiệm và đầu tư.

Từ trước đây (sau khi gia nhập WTO - PV) cho đến năm 2011, Việt Nam nhập siêu rất lớn, và bị thâm hụt vãng lai. Điều này phản ảnh tiết kiệm không đủ bù đắp đầu tư khi ấy rất lớn, với phần lớn đầu tư dựa vào nguồn vốn từ bên ngoài. Lúc bấy giờ tiết kiệm chỉ 30% GDP, nhưng đầu tư trung bình trong năm năm gia nhập WTO đến 42% GDP.

Sau Nghị quyết 11/2011/NQ-CP, Việt Nam tập trung ổn định kinh tế vĩ mô, cắt giảm đầu tư công, cùng với những diễn biến của nền kinh tế, như tăng trưởng kinh tế suy giảm, nên cán cân thương mại cân bằng hơn, thậm chí có thời điểm thặng dư. Việt Nam cũng đang thặng dư thương mại hơn 3,7 tỉ đô la Mỹ trong chín tháng đầu năm.

Tuy nhiên, theo ông Võ Trí Thành, nếu nhìn sâu hơn sẽ thấy đang tồn tại vấn đề. Đó là tiết kiệm trong nước không còn thấp hơn nhiều so với đầu tư, trong khi Việt Nam vẫn dùng rất nhiều đầu tư từ bên ngoài, từ đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đến đầu tư gián tiếp (FII) và ODA. Điều đáng lưu ý là, một phần rất lớn tiết kiệm không được dùng cho đầu tư sản xuất kinh doanh, mà được đầu tư dưới dạng đầu tư tài chính. Đây là một vấn đề liên quan đến môi trường kinh doanh, lòng tin đối với phát triển...