Việt Nam hiện có trên 600.000 doanh nghiệp (DN) tư nhân, hơn 16.000 DN có vốn đầu tư nước ngoài, gần 1.200 DN 100% vốn nhà nước và trên 3 triệu chủ hộ kinh doanh trong khu vực phi chính thức. Khu vực DN đóng góp hơn 60% GDP, 70% nguồn thu ngân sách Nhà nước, thu hút hơn 7,4 triệu lao động, chiếm khoảng 16,3% lực lượng lao động xã hội. Tổ chức công đoàn của người lao động đã được thành ở 100% các DN nhà nước và trong 60-70% số DN khu vực kinh tế ngoài nhà nước đủ điều kiện thành lập tổ chức công đoàn. Đại diện của doanh nhân và người lao động tham gia rộng rãi trong các cơ quan thuộc hệ thống chính trị. Trong tổng số 500 đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XIII hiện nay có 4 người trúng cử trong số 15 người tự ứng cử, tăng 3 người so với khóa XII và có 3 trong 4 người này là doanh nhân.

Ở Việt Nam, con người là động lực và mục tiêu chủ yếu của quá trình đổi mới, hội nhập và phát triển đất nước. Theo Hiến pháp và các luật định hiện hành, trong hoạt động DN, các quyền con người gắn kết không tách rời với quyền, nghĩa vụ công dân và liên quan đến cả chủ DN, cũng như người lao động. Mọi công dân bình đẳng trước pháp luật, không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội; có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm, có quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong DN hoặc trong các tổ chức kinh tế khác. Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức đầu tư, sản xuất, kinh doanh được pháp luật bảo hộ và không bị quốc hữu hóa; được bồi thường theo giá thị trường khi bị trưng mua hoặc trưng dụng vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, tình trạng khẩn cấp, phòng chống thiên tai. Mọi người dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc; quyền được bảo đảm an sinh xã hội, được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế; có quyền và nghĩa vụ học tập, quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động đó. Người làm công ăn lương được hưởng phúc lợi xã hội và các chế độ bảo hiểm, bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn, được hưởng lương và chế độ nghỉ ngơi. Nhà nước bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động và người sử dụng lao động, tạo điều kiện xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định. Các DN hoạt động, hợp tác và cạnh tranh bình đẳng theo pháp luật, có trách nhiệm bảo vệ môi trường, khắc phục, bồi thường thiệt hại hành vi gây ô nhiễm môi trường, làm suy kiệt tài nguyên thiên nhiên và suy giảm đa dạng sinh học; nghiêm cấm phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động, sử dụng nhân công dưới độ tuổi lao động tối thiểu, xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em. Các DN và người lao động có nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội, nộp thuế theo luật định, tôn trọng quyền của người khác.

Trên thực tế, việc thực hiện các chính sách về tiền lương, bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) và thực hiện pháp luật về lao động được triển khai ngày càng đồng bộ và tốt hơn. Hội đồng tiền lương quốc gia đã được thành lập. Các mức lương tối thiểu và ngưỡng phân loại nghèo quốc gia, tỷ lệ người tham gia và được nhận BHXH, BHYT, BHTN, thời gian nghỉ ốm đau và sinh đẻ giữ nguyên lương không ngừng được nâng lên; trong khi thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp, tỷ lệ thất nghiệp thường xuyên được giảm xuống, lợi ích và chất lượng sống của người lao động không ngừng được cải thiện. Quyền lợi cho người lao động trong DN ngày càng cao nhờ liên tục (5 lần từ tháng 1-2007 đến tháng 1-2014) tăng mức đóng hằng tháng cho đối tượng đồng thời tham gia cả BHXH, BHYT và BHTN từ tổng cộng 23% lên 32,5% (trong đó người sử dụng lao động cũng tăng mưc đóng từ 17% lên 22%) tổng mức tiền lương, tiền công ghi trong hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc. Theo Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, tính đến 31/12/2013, số người tham gia BHXH, BHYT trong cả nước là trên 62,3 triệu người, tăng 3% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: tham gia BHXH, BHYT bắt buộc là hơn 10,6 triệu người, tăng 1,9% (có 8,5 triệu người tham gia BHTN); 51,5 triệu người chỉ tham gia BHYT, tăng 3,2% và tham gia BHXH tự nguyện là 170.600 người, tăng 22,2% so với năm 2012. Thu BHXH, BHYT trên 159.171 tỷ đồng, đạt 108,2% kế hoạch; bao gồm thu BHXH bắt buộc 111.000 tỷ đồng, thu BHXH tự nguyện 532,5 tỷ đồng, thu BHYT 47.500 tỷ đồng. Số chi BHXH, BHYT đạt hơn 172.700 tỷ đồng, trong đó chi 48.000 tỷ đồng từ quỹ BHYT cho 125 triệu lượt người khám chữa bệnh; chi 80,3 tỷ đồng từ quỹ BHXH tự nguyện cho trên 6.000 lượt người; Chi 82.700 tỷ đồng từ quỹ BHXH bắt buộc cho gần 7,9 triệu lượt người về tiền hưu trí, tử tuất, tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp, ốm đau thai sản, BHTN (trong 9 tháng năm 2014, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi là 2,12%). Trên 67% dân số cả nước đã có BHYT. Nhiều loại dịch vụ kỹ thuật cao, chi phí lớn chữa bệnh nghề nghiệp cho người lao động đã được BHYT hỗ trợ thanh toán. Lương tối thiểu tiếp tục được điều chỉnh theo lộ trình với mục tiêu bằng với mức sống tối thiểu, góp phần giảm khó khăn, cải thiện đời sống của người lao động. Cơ chế tiền lương trong khu vực DN ngày càng gắn với năng suất lao động, hiệu quả kinh doanh.

Quyền và môi trường hoạt động của DN ở Việt Nam cũng ngày càng được cải thiện rõ rệt nhờ được giảm thuế, mở rộng tự do hóa kinh doanh, nới trần khống chế sở hữu và phạm vi tham gia các hoạt động M&A cho đầu tư nước ngoài, đẩy mạnh cổ phần hóa DNNN (432 DN trong giai đoạn 2014-2015), cải cách thủ tục hành chính về thuế, hải quan, xây dựng, giao thông vận tải, quản lý đất đai, tài nguyên môi trường. Các cấp chính quyền quan tâm tháo gỡ khó khăn vướng mắc cho DN, ưu tiên DN vừa và nhỏ, sử dụng nhiều lao động, bao gồm cả hỗ trợ các DN bị thiệt hại do căng thẳng biển Đông về thuế, bảo hiểm, lao động, tiền lương, vay vốn ngân hàng... Theo kế hoạch triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013, từ năm 2014-2016, dự kiến có 82 dự án luật, pháp lệnh được sửa đổi, bổ sung, ban hành mới, trong đó có 15 dự án về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; 14 dự án tổ chức bộ máy nhà nước và các thiết chế trong hệ thống chính trị; 43 dự án về kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường... Đặc biệt, theo dự thảo lần 4 sửa đổi Luật Doanh nghiệp năm 2005 và sẽ được Quốc hội xem xét thông qua vào cuối tháng 11-2014, quyền tự do kinh doanh được cải thiện căn bản do thu hẹp từ 49 lĩnh vực cấm kinh doanh hiện nay xuống chỉ còn 6 lĩnh vực. Luật bảo vệ môi trường (sửa đổi), Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo đang được xây dựng và hoàn thiện nhằm đảm bảo sự hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ tài nguyên môi trường, giảm thiểu mức độ gia tăng ô nhiễm, phục hồi suy thoái và nâng cao chất lượng môi trường, trước hết tại các khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, làng nghề, khu vực đông dân cư.

Những cải thiện về nhân quyền trong DN là kết quả tổng hợp, hội tụ những nỗ lực lâu dài của nhà nước và cả cộng đồng DN Việt Nam, thể hiện tinh thần gương mẫu, trách nhiệm của một nước thành viên Hội đồng Nhân quyền. Những nỗ lực này được ghi nhận rộng rãi cả trong và ngoài nước, cũng như ở kết quả Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc xem xét và thông qua Báo cáo về tình hình bảo đảm quyền con người tại Việt Nam chu kỳ 2 trong khuôn khổ Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chiều ngày 20/06/2014 tại Geneva, Thụy Sĩ; đồng thời, góp phần mang lại sự cải thiện khá tích cực các chỉ số niềm tin kinh doanh, niềm tin tiêu dùng, niềm tin thị trường và tín nhiệm quốc gia mới được công bố theo đánh giá của Phòng Thương mại châu Âu tại Việt Nam (Eurocham), của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế lớn nhất thế giới, như Moody’s và Fitch, Ngân hàng ANZ ở Việt Nam và nhiều tập đoàn, cùng các nhà đầu tư nổi tiếng thế giới…

Thực tế cho thấy, Việt Nam vẫn còn không ít khó khăn trong bảo đảm nhân quyền và khắc phục những tác động bất lợi của thực hiện nhân quyền đến lợi ích kinh doanh của DN, như: Mức tiền lương tối thiểu và tỷ lệ lao động tham gia BHXH, BHYT, BHTN còn thấp (20% lực lượng lao động và 70% đối tượng bắt buộc tham gia); Hiện tượng nợ lương, chiếm dụng, trốn và nợ đọng BHXH, BHTN, cũng như lạm dụng chính sách BHTN khá phổ biến; Tình trạng ô nhiễm môi trường, tai nạn lao động, các bệnh nghề nghiệp, trong tranh chấp quyền lợi giữa lao động và chủ DN, trong bảo đảm chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, quyền sở hữu trí tuệ… còn nhiều bất cập. Nhiều chủ DN còn coi nhẹ pháp luật, trách nhiệm xã hội, đạo đức kinh doanh, chạy theo lợi nhuận và lợi ích DN ngắn hạn, bỏ rơi quyền lợi của người lao động và người tiêu dùng xã hội…

Thực tế cũng cho thấy, để giải quyết những thách thức đa diện và phức tạp về bảo đảm nhân quyền và hài hòa lợi ích trong hoạt động DN là một quá trình không dễ dàng, đòi hỏi sự quan tâm, phối hợp thường xuyên, chặt chẽ giữa các bên liên quan trong tuân thủ luật pháp quốc gia và quốc tế, đặc biệt là Công ước Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc...Việt Nam đang và sẽ thường xuyên cập nhật, chia sẻ kinh nghiệm, bài học cũng như trao đổi, đối thoại với các nước, các tổ chức quốc tế và tổ chức phi chính phủ để ngày càng cải thiện các quyền cho người dân nói chung, nhân quyền trong DN nói riêng, đóng góp vào sự nghiệp bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người trên toàn thế giới.

Trong thời gian tới, nội dung bảo đảm nhân quyền trong DN ở Việt Nam sẽ gắn kết chặt chẽ với triển khai Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011-2020Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2050 (được thông qua tháng 4 và tháng 9 năm 2012), được cụ thể hóa bằng Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2014-2020 (thống qua tháng 3-2014), Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn 2013 – 2020 (thông qua tháng 2-2013), tăng cường hợp tác công-tư (PPP), hướng tới bảo đảm cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường, sản xuất và tiêu thụ bền vững. Theo đó, Việt Nam ngày càng đề cao yêu cầu buộc các DN tuân thủ pháp luật, các tập quán và chính sách quốc gia, các thỏa ước quốc tế có liên quan về nhân quyền, tăng cường trách nhiệm xã hội, cải thiện thu nhập, điều kiện làm việc cho lao động, coi đó như định hướng, ràng buộc, điều chỉnh các hoạt động kinh doanh của mình, hài hòa giữa yêu cầu bảo đảm quyền con người và lợi ích của DN, bảo vệ môi trường, phát triển cộng đồng xã hội bền vững, vì tiến bộ và hạnh phúc con người.

Trong quá trình đó, nhân quyền trong các DN sẽ ngày càng cải thiện như là một tiêu chuẩn toàn cầu và sự lựa chọn mang tính thời đại.

TS NGUYỄN MINH PHONG