Chế Lan Viên (tên thật là Phan Ngọc Hoan) và Tố Hữu (tên thật là Nguyễn Kim Thành) cùng sinh vào năm 1920, cùng quê Bình Trị Thiên. Nhưng con đường vào đời của hai người khác nhau. Tố Hữu may mắn được giác ngộ cách mạng sớm nên đường cách mạng và đường thơ là con đường thẳng tắp.

Chế Lan Viên cùng vợ và 2 con gái Tiếng thơ đầu đời của Tố Hữu là tiếng reo vui lạc quan, yêu đời: Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lý chói qua tim Hồn tôi là một vườn hoa lá Rất đậm hương và rộn tiếng chim. Còn chàng thi sĩ họ Chế thì tiếng thơ đầu đời là lời than bế tắc: Tôi có chờ đâu có đợi đâu Đem chi xuân đến gợi thêm sầu Với tôi tất cả đều vô nghĩa Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau. Mới 17 tuổi chàng thi sĩ họ Chế đã “xuất bản tập thơ Điêu tàn ra giữa làng thơ Việt Nam như một niềm kinh dị” (Hoài Thanh- Thi nhân Việt Nam). Thế rồi Cách mạng tháng 8 thành công, tác giả Điêu tàn hòa vào dòng thác cách mạng, nhận ra vai trò của Bác Hồ là “Người thay đổi đời tôi- Người thay đổi thơ tôi”. Từ đó, Chế Lan Viên lăn mình vào cuộc kháng chiến và sáng tác không mệt mỏi, không ngừng nghỉ. Ngòi bút của ông không dừng lại ở những trang thơ mà ông còn viết bút ký, tùy bút, lý luận phê bình và những bản tham luận đầy chất thơ, đầy triết lý, đầy trí tuệ ở các diễn đàn quốc tế. Xếp chồng các cuốn sách Chế Lan Viên đã xuất bản từ năm 1937 đến khi ông nhắm mắt xuôi tay vào ngày 19- 6-1989 thì có lẽ cao hơn chiều cao của tác giả! Chưa kể bản thảo chất đầy trong tủ, sau này người bạn đời của ông là nhà văn Vũ Thị Thường đã có công cho xuất bản thành Di cảo I , Di cảo II... Chế Lan Viên chịu khó đọc, chịu khó học. Sinh thời, nói chuyện với các nhà thơ trẻ, ông nhắc đi nhắc lại: “Phải học thật nhiều, đọc thật nhiều, đọc Tây, đọc Tàu, đọc cả những cái khác mình, cả những cái mình không thích để rồi biến thành của mình. Có văn hóa dồi dào thì sức viết mới bền bỉ. Nếu cứ ỷ vào năng khiếu, bản năng thì sức viết sẽ bị xói mòn nhanh chóng”. Thời chống Mỹ, cứu nước, ngoài những chuyến đi thực tế vào miền khu 4 khói lửa, và các vùng chiến tranh phá hoại ác liệt bằng không quân của Mỹ, Chế Lan Viên đã miệt mài đọc và sáng tác trong căn phòng chưa đến 10m2 phía sau nhà 51 Trần Hưng Đạo, trụ sở của Hội Nhà văn Việt Nam tại Hà Nội mà một học trò của ông đã ghi lại: “Từ sáng sớm khi vào giờ làm việc, ông đã vào bàn đọc, câu nào hay, ông lấy bút chì gạch chân và gập mép trang lại. Những ngày sáng tác hay viết bài, tôi thấy ông như người ép xác. Ngoài sân sôi động đi lại, ông khép cửa một mình một chỗ ngồi như buộc chân, không rời khỏi ghế.” (Con chữ soi bóng người- Trần Thị Thắng). Từ căn phòng nhỏ hẹp đó, chàng thi sĩ ngày thơ trẻ chỉ thấy những sọ người, những bóng ma, những nỗi đau, nỗi buồn của Điêu tàn, nay đã cất tiếng lòng tự hào: “Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng (...) và khẳng định “Những ngày tôi sống đây là những ngày đẹp hơn tất cả” (1965). Khi cả nước ra trận, Chế Lan Viên đã cho ra đời tập thơ “Những bài thơ đánh giặc” (1970- 1972), như người dũng sĩ diệt Mỹ tung hoành ngoài chiến trường. Miền Nam giải phóng, nước nhà thống nhất, cùng bắt tay xây dựng nước Việt Nam đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như ý nguyện của Bác Hồ, mặc dù cuộc sống còn bộn bề khó khăn thiếu thốn, nhà thơ Chế Lan Viên vẫn hạnh phúc thấy mình đang “Bay theo đường dân tộc đang bay (1976). Lao động nghệ thuật là thứ lao động không lội ruộng, không dính bùn, nhưng là thứ lao động phải vắt kiệt trí và lực, nhà văn nhà thơ tự giác, đam mê trút tâm huyết lên trang giấy. Sáng tác của Chế Lan Viên chủ yếu là thơ, được người đọc mọi thời đánh giá rất cao. Thơ của ông mới đọc thì khó hiểu nên dễ chán, nhất là với lứa tuổi học sinh, thanh niên chưa có vốn sống. Nhưng khi đã chịu đọc, đã cảm thụ được rồi thì mê. Bởi vậy, các ý kiến nhận xét về thơ Chế Lan Viên đều đánh giá cao chất suy tưởng, trí tuệ mà tác giả gửi gắm vào từng câu, từng chữ. Chúng ta cùng đọc lại một số lời đánh giá để hiểu giá trị sâu sắc những sáng tác của ông: “Chế Lan Viên đã có một phong cách thơ đa dạng. Mạch tình cảm trong thơ anh đằm thắm, thiết tha. Những bài thơ viết về vẻ đẹp của đất nước, của nhân dân, tình đời, tình người thường sâu lắng yêu thương. Nhưng trội lên trong thơ Chế Lan Viên vẫn là chất suy tưởng.” (Giáo sư Hà Minh Đức, báo Tiền Phong chủ nhật số 6/1989). “Hôm qua đài phát thanh thông báo thi hài Hoan sẽ hỏa táng.. Nhưng có gì đốt cháy được sự thông minh, tài năng và nhiệt tình ấy? Vì chính bản thân trí tuệ cũng là lửa kia mà. Nó không thành than thành tro được.” (nhà thơ Lưu Trọng Lư : Tiễn biệt Hoan, báo Tuổi trẻ 27-6-1989). “Hôm nay chia tay nhà thơ Chế Lan Viên, mỗi chúng ta đều thấy rõ một trí tuệ và tài năng lớn của văn học ta vừa ra đi. Anh để lại một tòa nhà lớn về thơ trong đó có những bài nhỏ tứ tuyệt như những dòng nước trong cổ điển thánh thót, bên cạnh những giao hưởng thơ hiện đại đủ cả trống lớn kèn trận... và những tiếng đàn dây dịu dàng thấm vào lòng người đọc.” (nhà thơ Nguyễn Đình Thi: Lời vĩnh biệt cuối cùng, báo Văn nghệ 1-7-1989).“Tác phẩm của anh Chế Lan Viên thật đồ sộ, kết quả của 55 năm sáng tạo không ngừng nghỉ. Có thể nói Chế Lan Viên là một thứ biên niên thơ của một người nhưng cũng là biên niên thơ của Tổ quốc kể từ khi dân tộc nằm dưới cái thung lũng đau thương và ngoi lên từ đó mà bước tới cánh đồng hoan lạc.” (Nhà văn Anh Đức: Chế Lan Viên nhà thơ- con người, báo Văn nghệ 1-7-1989). “Chế Lan Viên cũng là một nhà hoạt động xã hội không mệt mỏi. Anh chiến đấu cho sự xây dựng một nền văn hóa mới sinh thành, chiến đấu cho cuộc chiến đấu và cuộc sống mới của dân tộc. Anh có mặt với tư cách đại biểu trong Hội nghị chính trị đặc biệt do đích thân Bác Hồ triệu tập, anh là đại biểu Quốc hội nhiều khóa liền (4, 5, 6, 7), anh là sứ giả của thơ và của văn hóa đất nước ở Bắc Kinh, Mạc Tư Khoa, Paris, Oslo, Stokholm... và ở đâu anh cũng chiếm được lòng tin yêu kính trọng của bè bạn và đồng nghiệp, làm vinh dự con người và văn hóa dân tộc. Anh hiển nhiên rất xứng đáng là nhà văn hóa dân tộc.” ( Điếu văn do nhà thơ Bảo Định Giang đọc tại lễ truy điệu nhà thơ Chế Lan Viên tại TP Hồ Chí Minh 26-6-1989). Trong một lá thư gửi Hội thảo khoa học về Chế Lan Viên, ông Trương Tấn Sang (Thường trực Ban Bí thư) đã từng đánh giá: “Cuộc đời và sự nghiệp của một con người hiến dâng tất cả cho Tổ quốc và thi ca, một con người đạo đức thanh khiết, một sự nghiệp thơ ca giàu đức tin và lẽ sống cao đẹp. Cuộc đời và sự nghiệp cao quý ấy chấm một nét son trong đời sống văn hóa của dân tộc và khích lệ chúng ta hôm nay sống thật đẹp vì Tổ quốc, vì nhân dân và mãi mãi khích lệ các thế hệ nối tiếp đời sau”. Hơn 20 năm không còn Chế Lan Viên nhưng tên tuổi và sự nghiệp thơ văn của ông thì còn mãi với thời gian, đến với mọi người yêu thơ hôm qua, hôm nay và mãi mãi. Thanh Khê