Rời bỏ những vinh quang của một nhạc sĩ sáng tác ca khúc, anh lặng lẽ sang New Zealand làm bồi bàn kiếm tiền học khí nhạc. Sau 5 năm học ở xứ người, anh cùng những bạn trẻ của nhà hát Giao hưởng và vũ kịch TP.HCM mang lại sự khởi sắc cho nền khí nhạc Việt Nam, với những tác phẩm giao hưởng thể nghiệm mới lạ, lãng mạn và đầy chất tự sự, như Vàng son, L’indochina…

Các tin khác

>> Minh Hằng: Lưu Thiên Hương và Đức Trí đã nghi ngờ tôi
>> Làng ca nhạc và hội chứng chín ép
>> Phạm Băng Băng góp mặt trong Người sắt 3

Anh đang chuẩn bị album đầu tay của riêng mình, hội ngộ cùng tiếng hát Thu Phương với Dòng sông lơ đãng, Những mùa hoa bỏ lại, Không còn mùa thu...

Đang có một sự nghiệp vững vàng, hái ra tiền, lý do gì anh rời Việt Nam bắt đầu một cuộc phiêu lưu mới?

Tôi học sáng tác, học nhạc cổ điển từ bé ở nhạc viện, nhưng lớn lên lại bắt đầu sự nghiệp bằng viết ca khúc. Những thành công bước đầu cứ cuốn mình theo, tôi sợ đến một lúc nào đó thành thói quen, khó mà thoát ra nổi để làm được điều mình mơ ước từ nhỏ.

Ca khúc vẫn là một góc nhỏ của mình, không thể tách rời, nhưng tôi luôn nghĩ lúc nào đó mình sẽ viết khí nhạc, giao hưởng. 25 tuổi, cái tuổi không còn trẻ nữa, tôi quyết định bứt ra đi tu nghiệp ở New Zealand. Chọn New Zealand vì nơi này không quá nhiều người Việt, không có nhiều bạn bè, nếu không mình sẽ rất dễ bị cuốn vào vòng “cám dỗ”, lại đi đàn hát ở các nhà hàng như ở Việt Nam.

Nhạc sĩ Việt Anh

Lần đầu tiên tôi được độc lập làm tất cả mọi việc và chịu trách nhiệm về nó. Tôi đến quán là để làm bồi bàn, lau dọn, bưng bê, chứ không phải là chơi đàn… Từ trước đến giờ tôi chỉ biết học nhạc, giờ mới là lúc tôi học sống. Mỗi ngày đối với tôi là một trải nghiệm mới mà những năm tháng trước đó tôi chưa từng trải qua. Chính sự nỗ lực đã khiến mọi thứ trở nên tốt đẹp hơn, làm mình cứng rắn hơn, từ đó, hiểu mình thực sự muốn gì.

Một tác phẩm khí nhạc đòi hỏi sự lao động đều đặn, kiên trì trong từng khuông nhạc, nhưng nếu không có cảm xúc dẫn dắt, cũng giống như một công việc khổ sai, nhiều khi muốn bẻ bút vứt đi. Tôi từ từ khơi gợi lại những gì mình đã bỏ quên, kiên nhẫn để vượt qua sự mệt mỏi, luyện tập từng ngày cho sự hiểu biết chuyên nghiệp, nghiêm túc, tư duy dài hơi, có quá trình…

Giao hưởng giúp anh chuyển tải điều gì mà ca khúc không thể? Anh nghĩ gì về những luồng ý kiến trái ngược với hai tác phẩm Vàng son và L’indochina?

Giao hưởng giúp tôi chuyển tải những câu chuyện đẹp về lịch sử Việt Nam. L’indochina là những mơ mộng của tôi về thời Pháp thuộc, sự đụng chạm của hai nền văn hóa, một nước phong kiến khi đón nhận đỉnh cao của văn minh châu Âu, sự hòa nhập, tiếp xúc… Tất cả hiện lên trong tôi, từ những bức ảnh về con đường Catinat ngày xưa, nhà hát Thành phố, phimNgười tình… đến những bức tranh Đông Hồ như Đám cưới chuột…

Vàng son nối tiếp không khí đó với phố cổ rêu phong, lung linh những câu chuyện từ quá khứ. Cũng có nhiều ý kiến về cách thể hiện hơi khác biệt, không thuần túy cổ điển của tôi, cho rằng… Tây quá.

Nhưng tôi nghĩ đơn giản, đó là chính mình. Tôi sống giữa hai nền văn hóa, chịu ảnh hưởng nhiều từ trường phái tối giản xuất hiện thập niên 50 – 60 thế kỷ trước, nhưng không sử dụng nguyên bản, mà chỉ chấm phá vài nét nhỏ, biến hóa sao cho phù hợp với chính mình, và cho khán giả. Nếu bắt nhạc công chơi những điều quá xa lạ cũng khổ sở cho họ. Còn để thay đổi cách nghe, cách trình diễn ư? Điều đó cần nhiều thế hệ mới làm được. Tôi chưa làm được điều lớn lao như thế đâu, đầu tiên chỉ là muốn thay đổi chính mình.

Trong cuộc sống hàng ngày, anh có theo chủ nghĩa tối giản?

Giống như trong nghệ thuật thôi, mọi thứ cứ giản dị và hồn nhiên, uống cà phê biết cà phê ngon, về nhà chơi với con thấy thích thú. Tôi sống không quá nhiều nhu cầu, như thế dễ hạnh phúc hơn.

Tôi cố gắng biến những điều phức tạp trở nên giản dị, như thiền vậy. Mỗi buổi sáng thức dậy là công việc ập đến, cuộc sống đôi khi cuốn mình đi, mình cứ chạy theo nó đến mức quên mất cả bản thân, thỉnh thoảng mới giật mình dừng lại, kịp suy nghĩ. Khi sáng tác là lúc mình nhạy cảm và dễ bị tổn thương nhất. Nhưng tôi không nghĩ nhiều đến dư luận, chỉ cố gắng sao cho trung thực, hết lòng nhất với chính mình. Sống mới khó. Sống cũng là một nghệ thuật, lớn lao hơn cả nghệ thuật. Với cuộc sống, tôi vẫn đang trong giai đoạn “trung học”, vẫn phải học để hòa hợp cái mình thích và cái mình sống, không đặc biệt, không khác người. Mình có cái duyên của mình, nhưng cái duyên ấy phải hòa hợp với xã hội, với gia đình, với thiên nhiên.

Điều quan trọng nhất theo anh, để có một tác phẩm rung động tâm hồn người nghe?

Quan trọng là bạn sống thế nào, mới có câu chuyện hay để kể cho người nghe. Trong cuộc đời người nhạc sĩ, có thể viết rất nhiều tác phẩm, nhưng không phải lúc nào cũng hay. Một tác phẩm có thể rất phức tạp, nhưng nếu không xuất phát từ trái tim cũng chỉ trượt qua người nghe như một thứ vô hồn.

Tôi nghĩ nếu trong mình có cảm xúc thực sự thì người nghe sẽ nhận được, và có những thông điệp đáp lại. Một bạn trẻ đã nói với tôi rằng “những bài hát của anh giống như nói lên điều mọi người đều biết, mà không nhận ra”. Cái đẹp luôn hiện diện đâu đó trong cuộc sống này, tất cả mọi người đều trải qua những khoảnh khắc đó mà không nhớ. Mình chỉ là người khơi gợi lại nó thôi.

Vậy theo anh, vì sao những sản phẩm phản âm nhạc, đầu độc tâm hồn người nghe lại xuất hiện nhiều đến thế trên các phương tiện truyền thông?

Điều đầu tiên thuộc về trách nhiệm nghệ sĩ. Thế hệ đàn anh như Phú Quang, Trần Tiến, Dương Thụ, nhóm Những Người Bạn… vừa qua giai đoạn sung sức của mình, nhưng chưa có những gương mặt mới đủ để làm thay công việc của lớp nhạc sĩ trước. Biết làm sao được. Âm nhạc đích thực chưa đủ mạnh, chưa đủ nhiều để định hình một thị trường lành mạnh.

Tôi không nghĩ nhiều đến những điều đó, vì nghĩ nhiều sẽ không làm việc được. Thay vì nói, hãy làm những tác phẩm tốt. Nếu những tác phẩm hay chiếm đa số, mọi thứ sẽ thay đổi. Khi thị trường âm nhạc được nâng lên, thị hiếu người nghe sẽ thay đổi. Đó là cả một quá trình, không thể một sớm một chiều.

Anh có thấy mình đơn độc?

Đôi khi. Cuộc đời nghệ thuật cũng đơn độc, chẳng ai đi thay mình cả. Thế hệ nghệ sĩ trước khó khăn hơn mình mà họ vẫn làm được nhiều điều lớn lao, nghĩ như thế là lại được an ủi, mọi thứ lại nhẹ nhàng. Vả lại, tôi đã tìm thấy những người bạn cùng chí hướng ở nhà hát Giao hưởng và vũ kịch như Phúc Hùng, Phúc Hải, Duy Linh, Trần Nhật Minh…

các bạn đều ở nước ngoài về, còn rất trẻ, yêu nghệ thuật hết mình. Điều đó động viên mình rất nhiều. Để hình thành một nền khí nhạc có đẳng cấp, cần nhiều thế hệ tiếp nối, nhưng ít nhất mỗi người hãy là một viên gạch để thế hệ sau tiếp sức. Tôi biết rất nhiều người cũng đang âm thầm làm công việc đó với sự trong sáng, yêu nghề. Âm nhạc là một phần của văn hóa, có thể chúng ta phát triển muộn hơn các nước khác, nhưng tôi tin nó phải xảy ra, cần phải thế, và không thể khác.

Điều gì giúp anh có được sự vững vàng như thế, kể cả khi… trắng tay?

Chỗ dựa lớn nhất của tôi là gia đình. Ngay từ nhỏ, bố mẹ đã định hướng cho tôi con đường nghệ thuật, và đến bây giờ, tôi vẫn đi trên con đường ấy một cách kiên trì. Với cha mẹ, bất cứ khi nào tôi ngồi vào đàn là quan trọng nhất, ông bà không quan tâm đến điều gì khác. Tuổi thơ của tôi lớn lên ở khu Cầu Giấy, xung quanh là đồng lúa, trường tôi có mấy đứa bạn còn cưỡi trâu đi học, ban đêm thỉnh thoảng mới có điện, mà điện rất yếu.

Hình ảnh mà tôi nhớ mãi là bàn tay mẹ cầm đèn dầu cho tôi tập đàn suốt bao năm. Không chỉ nhà tôi, mà cha mẹ nào ở khu văn công này đều thế. Dù có điện hay không thì đêm đêm cũng có cuộc thi đấu ngầm xem con ai tập đàn cuối cùng. Tôi đã vượt qua những cay đắng của cuộc đời nhẹ nhàng vì có một quá khứ rất đẹp đẽ, chứng kiến những ông bố bà mẹ hy sinh tất cả chỉ để cho con được học nhạc.

Tinh thần đó là nền tảng để mình vượt qua những va vấp, thiệt thòi, đi tiếp. Cha mẹ tôi luôn coi nghệ thuật như một tôn giáo, sống với nó một cách tinh khiết, trong lành. Đó là điều tôi ngưỡng mộ nhất, và cố gắng đi theo, dù rất khó khăn trong thời buổi này.

Còn khi tận cùng đau đớn, thất bại, hụt hẫng?

Tôi quay trở về với âm nhạc. Âm nhạc xoa dịu, làm lành, mọi vết thương trở nên dễ chịu hơn, và tôi lại được làm mới mình, tự ru mình. Mọi tình cảm mình nhận được trong đời đều do những ca khúc mang lại.

Ca khúc là cách đến với mình giản dị và trực tiếp nhất, bày tỏ nhanh nhất với mọi người. Chỉ cần cảm một lời trong ca khúc của nhau là trở thành bạn rồi, giống như cái hạnh phúc bất tận khi nghe ai đó ngâm nga một câu hát của mình. Khi hai sợi dây ngân lên cùng nhau thì tất cả mọi khó khăn trong cuộc sống tự nhiên trở thành số không hết.

Cái tên Thu Phương đã gắn liền với những tình khúc của Việt Anh, liệu sau cô ấy, anh có tìm được ai hiểu mình đến thế?

Vẫn chỉ là Thu Phương. Cô ấy rất lạ, có thể không gặp gỡ nhiều, không nói chuyện nhiều với nhau, nhưng mãi là bạn thân, như thể từ rất lâu rồi. Phương đặt cảm xúc của mình vào bài hát giống như chính cô ấy là như thế, cái bên trong của cô ấy là như thế, không cần phải cố gắng tìm hiểu gì hết. Phương đọc thẳng điều đó mà không cần qua một phiên dịch nào.

Hòa âm, phối khí, viết nhạc cho phim, sáng tác… công việc bộn bề như thế, vấn đề lớn nhất mà anh phải vượt qua, để bổ sung những khiếm khuyết của mình?

Phải đắp đầy những lỗ hổng trong kiến thức bằng văn hóa dân tộc, dung hòa được kỹ thuật phương Tây và tâm hồn Á Đông. Tôi cũng rất mê đọc sách, đôi khi đọc thơ. Hồi nhỏ tôi rất mê thơ Nguyễn Bính, Huy Cận, Hàn Mạc Tử, có thể ngâm nga suốt ngày. Sau này tôi thích thơ Chế Lan Viên. Rất tiếc là gần đây tôi mới đọc thơ Bùi Giáng.

Đó là một thiệt thòi. Ông giống như một bậc thánh thơ, thế giới của ông huyền diệu quá, mình cảm giác ngợp trong đó, giống như được thả vào một không gian bao la. Tôi luôn kiểm tra xem mình “hư hỏng” đến cỡ nào bằng cách đọc lại những bài thơ cũ: khi thấy mình vẫn còn nguyên vẹn cảm xúc như xưa, biết là mình chưa… hỏng hẳn.

Theo SGTT