Trao đổi với phóng viên chuyên đề Tinh Hoa Việt, Đại tá, nhà phê bình văn học Ngô Vĩnh Bình nhấn mạnh: “… Thời tôi “cầm chịch” là thời đã được hưởng làn gió đổi mới, nên cách nhìn nhận, đánh giá … không có sự quy chụp… Cấp trên của tôi đã cho tôi những cơ hội được đối thoại; đồng thời tôi lại được “sự hợp tác” của bạn bè. Là thế, việc tưởng phức tạp hóa đơn giản, tưởng việc lớn hóa việc không lớn. Ơn giời! Là thế không có “đấu tố”, không có ai bị giáng cấp, giáng chức hay chậm quân hàm quân hiệu gì!...”

Nha phe binh van hoc Ngo Vinh Binh: Lam van chuong bao gio cung kho - Anh 1

Đại tá, nhà phê bình văn học Ngô Vĩnh Bình. (Ảnh: Nguyễn Thành Trung).

Đại tá, nhà phê bình văn học Ngô Vĩnh Bình sinh năm 1953 trước khi chuyển về tòa soạn tạp chí Văn nghệ Quân đội (VNQĐ) công tác năm 1980 từng là lính sư đoàn cận vệ thủ đô. Ông được bổ nhiệm làm Tổng biên tập tạp chí VNQĐ từ tháng 1/2010 và đảm nhận cương vị này tới năm 2014.

Hồng Thanh Quang: Đúng là thời gian như bóng câu qua cửa sổ. Như các cụ ta vẫn nói… Tới tháng Giêng năm sau, 2017, sẽ là dịp kỷ niệm 60 năm tạp chí VNQĐ ra số đầu tiên. Tôi nhớ, khi nhận chức Chủ nhiệm đầu tiên của tạp chí, nhà văn Văn Phác mới 30 tuổi (ông sinh năm 1926). Tổng biên tập bây giờ của VNQĐ, nhà văn Nguyễn Bình Phương, sinh năm 1965, khi nhận quyết định thay anh làm “chủ tế” ở “Nhà số 4” thì cũng đã hơn 50 rồi. Anh có suy nghĩ gì không khi tôi nhắc tới chi tiết này?

Ngô Vĩnh Bình: Mỗi thời mỗi khác! Bạn có biết nhà văn Nguyễn Đình Thi vào Quốc hội năm bao nhiêu tuổi không? 21 tuổi. Ông sinh năm 1924, năm 1945 ông tham dự Hội nghị Quốc dân Tân Trào, sau đó được bầu làm Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 1. Sau Cách mạng tháng Tám, làm Tổng thư ký Hội Văn hóa cứu quốc mới 22 tuổi…

Vâng, đó là “Cái thuở ban đầu Dân Quốc ấy, Nghìn năm chưa dễ mấy ai quên”, như nhà thơ Xuân Diệu từng viết trong tráng ca “Hội nghị non sông” năm 1946… Thực ra tôi vẫn nghĩ, vấn đề không phải ở việc bao nhiêu tuổi mà là ở con người cụ thể là ai… Người hay thì ở lứa tuổi nào vào việc cũng hay…

- Thì đúng là như thế!

Nhưng lại phải nói thêm một điều này, những người trẻ làm văn chương bao giờ cũng sống động và dễ đổi mới hơn. Thực tế cho thấy, khi lớn tuổi rồi, nhìn lại, nhiều nhà văn, nhà thơ mới chợt nhận ra rằng, hóa ra những cái ta viết khi còn trẻ, khi còn chưa nổi tiếng, thì lại là những tác phẩm hay nhất. Anh có nghĩ thế không?

- Cái đó đúng, nhưng chỉ đúng với một số người. Tôi lấy dẫn chứng hai trường hợp cùng ở VNQĐ. Khi còn trẻ nhà thơ Trần Đăng Khoa viết tự nhiên hơn, trong sáng hơn, là “thần đồng” thơ. Nhưng với nhà văn Nguyễn Xuân Khánh thì lại khác. Khi ông còn ở VNQĐ, văn chương có thể nói là chưa có dấu ấn gì, mặc dù còn khá trẻ. Nhưng bây giờ thì bạn biết đấy...

Vâng, tôi nghĩ nhà văn Nguyễn Xuân Khánh là một trường hợp rất đặc biệt. Và cuộc đời cũng như sáng tác của ông đã cho chúng ta thêm một lần thấy rõ rằng, tài năng đích thực thì chẳng đoạn trường nào vùi dập được. Đôi khi, chính những khổ ải đã đổ xuống đầu lại giúp cho tâm thế và tài năng của nhà văn trở nên chói lói và cao cả hơn. Tất nhiên, nói vậy không có nghĩa là tôi đồng tình với việc tạo ra thêm những khó khăn nhân tạo cho những người viết văn. Nhưng một nhà văn cốt cách lớn thì không một trở lực nào có thể ngăn cản được họ vươn lên tâm cao xứng đáng của họ… Trở lại với câu chuyện VNQĐ. Chính ở tòa soạn này anh đã đi trọn được một vòng công, trưởng thành từ một biên tập viên bình thường lên cương vị Tổng biên tập. Bây giờ anh còn nhớ duyên nợ gì đã dẫn anh tới “Nhà số 4”?

- Tôi vốn học sử, làm nghề dân tộc học. Từng công tác ở một cơ quan nghiên cứu khoa học xã hội hàng đầu (Viện Hàn lâm KHXH) bốn năm năm trời...Nhưng rồi chiến tranh, rồi có lệnh Tổng động viên. Vào bộ đội làm anh lính “đóng đinh leo thang” suốt ngày. Từng trong quân ngũ, anh biết đó là nghề gì rồi?...

Tuyên huấn!

- Làm lính tuyên huấn. Rảnh rỗi làm thơ viết báo nhì nhằng. Viết từ tờ tin Trung đoàn, tờ tin Quân khu... đến báo Nhân Dân!.. Rồi các anh ở VNQĐ biết, báo cáo lên Tổng cục Chính trị. Quân đội ra quyết định điều động. Thế là thành người “Nhà số 4”! Tất cả là do thời thế, số phận...

Vâng, lắm khi không định mà thành, nhiều lúc cứ trù tính mãi thì lại vẫn xôi hỏng bỏng không. Âu cũng là vận giời!..

- (Cười): …

Đứng ở góc độ một người làm nghề viết phê bình văn chương, anh nhận thấy thế nào về vai trò của VNQĐ trong việc làm đúng hơn những khẩu khiếu văn chương nước nhà trong những năm qua? Liệu có thể nói là lúc nào VNQĐ cũng duy trì được góc nhìn đúng đắn về sáng tác hay không?

- Hơn bất kỳ nơi nào, thuật ngữ “nhà văn - chiến sĩ” lại được quán triệt sâu sắc như ở trong quân đội; mà trong quân đội, VNQĐ được xem là “thành trì” của văn học Cách mạng - Kháng chiến...Nhà văn Nguyễn Khải có lần khai trong bản “Tự kể chuyện”, ở mục “nghề nghiệp”, ông ấy ghi là “cán bộ văn học”. Thủ trưởng của chúng tôi thường nhắc nhở: cán bộ văn hóa văn nghệ là cán bộ chính trị; viết phải “đúng” và “hay”, nhưng trước hết phải “đúng”. Văn chương của họ hay dở thế nào người đọc đương thời đã đánh giá (và đời sau sẽ còn phán quyết). Tuy nhiên, là người từng can dự vào những “thành, bại” của tờ tạp chí này, tôi có thể nói là về cơ bản nó luôn luôn thực hiện đúng tôn chỉ mục đích. Tất nhiên, cũng có khi bị “thổi còi” đấy!

Vâng, thực ra tôi cũng đã chứng kiến không ít trường hợp người này hay người khác, tác phẩm này hay tác phẩm khác ở VNQĐ bị “thổi còi”, khi tôi còn là phóng viên báo Quân đội Nhân dân và giao lưu với nhiều bậc đàn anh ở “Nhà số 4”… Lúc ấy thì cũng cảm thấy run run và thương thương… Nhưng bây giờ nghĩ lại, thấy mọi sự nói cho cùng thì cũng không có gì quá ư là nghiêm trọng. Bây giờ tôi nghĩ trong văn chương bị lãnh đạo “thổi còi” thì cũng như trong thể thao bị trọng tài thổi còi, có thể hành vi không hợp với môn bóng đá thì lại được phép trong bóng chuyền hay bóng rổ. Thành ra bị “thổi còi” chưa chắc đã là sai tuyệt đối đối với người hay đời. Đơn giản lắm là chưa đúng thời điểm, chưa đúng tình thế…. Còn giá trị văn chương đích thực thì là bất biến, chỉ phụ thuộc vào việc xã hội hiểu ra điều đó sớm hay muộn thôi. Hiểu ra sớm thì tốt, nhưng muộn thì cũng có cái hay của nó… Có đúng vậy không anh?

- Đúng thế!

Với tư cách là người trong nhà, anh có thể cho biết thêm về những gì xảy ra trong những lúc VNQĐ không may bị vướng phải những sự cố bút nghiên không anh? Và tạp chí đã xử lý những sự cố ấy như thế nào?

- VNQĐ đến thời tôi, đã trải qua 7 đời Tổng biên tập, thời nào cũng “dính”. Thời thì “nhân văn”, thời thì “đề dẫn”, thời thì “chuyện không có trong sự thật” ...

Thế còn trong thời anh “cầm chịch”?

- Tôi có lần nói vui: “Nếu có điều kiện in, thì cuốn sách hay nhất của tôi sẽ là tập Tuyển tập những bài viết... “giải trình”!. Là “tếu” đấy, nhưng là tếu có cơ sở!

Tôi vẫn còn lưu giữ tất cả các văn bản mà!

Những vụ việc gì, anh có thể “bật mí” cho bạn đọc không?

- Có thể chứ!

Vì đàng nào anh cũng đã “hạ cánh an toàn rồi”?

- Không phải thế. Đơn giản vì sông có khúc người có lúc. Bây giờ là lúc có thể kể ra không ít điều về quá khứ một cách cởi mở và trung thực nhất. Ví dụ như việc trao giải cho bài thơ “Thời đất nước gian lao” (của nhà thơ Nguyễn Việt Chiến), việc in tập truyện ngắn “Dị hương” (của nhà văn Sương Nguyệt Minh) hay gần nhất là cuốn “Mình và Họ” (Bản in khi giải trình là “Xe lên xe xuống” của nhà văn Nguyễn Bình Phương)... Trường hợp trao giải cho cho bài thơ “Thời đất nước gian lao” là “lỗi” về nội dung; hai trường hợp sau có cả “lỗi” về quản lý cán bộ. Đa số các trường hợp phải giải trình là do có ý kiến khi thì của cơ quan chức năng, lúc thì ý kiến của một vài nhà phê bình trên báo chí chính thống và nhiều hơn là ý kiến, “đơn kiện” của người đọc (có khi là đồng nghiệp, là người viết với nhau!)…

Không biết cụ thể trước đây các bậc tiền nhiệm xử lý các “sự cố” như thế nào chứ vào thời tôi thì tương đối “êm ái”. Có thể là thời tôi “cầm chịch” là thời đã được hưởng làn gió đổi mới, nên cách nhìn nhận, đánh giá những “lỗi” kia có phần thoáng. Không có sự quy chụp, đa số cho rằng là “tai nạn nghề nghiệp”. Có người bảo, do các bản giải trình của tôi viết “khéo”. Tôi cho rằng, không phải vậy mà cái chính là cấp trên của tôi đã cho tôi những cơ hội được đối thoại; đồng thời tôi lại được “sự hợp tác” của bạn bè. Là thế, việc tưởng phức tạp hóa đơn giản, tưởng việc lớn hóa việc không lớn. Ơn giời! Là thế, không có “đấu tố”, không có ai bị giáng cấp, giáng chức hay chậm quân hàm quân hiệu gì!...

Làm cấp dưới của anh thật sướng! Tôi trong đời hãi nhất những vị chỉ huy luôn chỉ nhìn thấy ở cấp dưới những động cơ tiêu cực… Đặc biệt trong lĩnh vực sáng tạo…

- Ai cũng có nỗi ngại như Hồng Thanh Quang. Cả tôi cũng thế…

Bây giờ một số người hay nói tới vai trò của một người làm văn học tự do với một công chức làm văn học. Dường như công chức thì khó viết thật hết lòng mình. Anh có nghĩ như vậy không?

- Như trên tôi đã nói, nhà văn Nguyễn Khải bảo ông ấy là “cán bộ văn học”. Các ông Nguyễn Minh Châu, Xuân Thiều, Hữu Mai, Chính Hữu... cũng vậy. Là công chức cả đấy chứ. Văn họ cũng có “xoàng” đâu? Tôi nghĩ, văn chương là cái lộc giời cho, kẻ ít người nhiều. Có tài, có chí thì xin lỗi, “đi tù” cũng vẫn viết văn được mà văn có khi hay nữa là khác! Tất nhiên, nếu người viết văn mà cứ bị “săm soi”, nhắc nhở; thậm chí là “dạy bảo” suốt ngày thì có tài thánh cũng đành gác bút.

Ai trong số những người viết phê bình văn chương ở “Nhà số 4” gây ấn tượng sâu đậm nhất đối với anh?

- Mỗi người mỗi tạng, mỗi xuất thân. Chẳng có ai toàn bích, nhưng mỗi ông (ở VNQĐ không có ai là nữ làm công việc này) lại có mặt mạnh riêng, gây được ấn tượng riêng với không chỉ tôi mà nhiều bạn đọc. Ông Nhị Ca chữ nghĩa, nhất là ngoại ngữ đầy người, cẩn thận đến từng dấu chấm phảy. Ông Vương Trí Nhàn “đa năng”, viết báo, làm nghiên cứu văn học, văn hóa đều tinh tường và khác thường. Ông Ngô Thảo viết có tình, giọng điệu lại vu khoát; với văn chương đã vậy, với sân khấu cũng thế. Các ông Hồng Diệu, Lê Thành Nghị, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Hòa người nào cũng có ngón nghề và giọng điệu của riêng mình...

Anh có nghĩ rằng trong tình hình sáng tác hiện nay, viết phê bình văn chương là việc càng khó khăn hơn trước. Nếu không khéo thì người viết phê bình văn chương chỉ là cô “Lọ Lem” cho người sáng tác… Tôi dùng cái từ cô “Lọ Lem” ở đây vì bất chợt tôi nhớ đến câu thơ của nhà thơ Nga Evtushenko, ông ấy nhận ông ấy là cô “Lọ Lem” cho thời đại, chuyên hầu hạ lau chùi…

- Làm văn chương khi nào cũng khó. Chỉ có “chơi” văn chương: “đàn đúm”, “đánh đu” cùng văn chương mới dễ. Văn hóa đọc đang lâm nguy, văn chương cũng vậy. Làm phê bình văn học, tôi nghĩ cũng vậy!

Nha phe binh van hoc Ngo Vinh Binh: Lam van chuong bao gio cung kho - Anh 2

(Ảnh: Nguyễn Thành Trung).

Thông thường những đồng nghiệp từng ở bên nhau trong những giai đoạn khó khăn thì hay xót xa nhau hơn vì những đoạn trường từng phải nếm trải. Nhưng cũng có người lại vì thế mà nhìn bạn bè đồng trang lứa bằng con mắt xét nét, đôi khi tới mức khắc nghiệt với nhau. Trong đội ngũ các nhà văn ở “Nhà số 4”, chuyện như thế đã từng xảy ra hay không?

- Nhà văn cũng là con người. Cái đó ở đâu ít nhiều cũng có chuyện đó, nó là lẽ đời. Sau chiến tranh, nhà thơ Hồ Thấu có câu thơ:

Chiến trường ai khóc chia phôi
Khải hoàn ai nhắc đến người hôm qua...

Không hiểu sao bạn hỏi câu này tôi lại nhớ tới câu thơ ấy?

Anh từng làm việc dưới quyền cố nhà văn Dũng Hà và nhà văn Hồ Phương. Hai ông tướng, một Tổng biên tập, một Phó tổng biên tập… Anh nhớ gì về họ nếu nhìn từ góc độ hôm nay?

- Hai ông không chỉ cùng là những viên tướng ở “Nhà số 4” mà còn là những chiến sĩ Điện Biên Phủ. Có chiến tích, có tác phẩm từ khi còn rất trẻ. Tôi thực sự kính trọng họ. “Năm ngón tay có ngón dài ngón ngắn”, mỗi ông một tính cách, gia cảnh. Ông Hồ Phương văn cũng như người, nhàn nhạt đèm đẹp. Ông bảo ông là người Hà Nội và cũng luôn sống “tự nhiên như người Hà Nội”! Ông Dũng Hà chất phác, văn chương không “hoa hòe, hoa sói”, rặt “tả trận”, nhưng thật chân thật, chân tình. Ông sống đặc chất Thái Bình quê lúa, đôi khi vừa duyệt bài vừa í a mấy câu hát chèo!

Những đồn đại về mâu thuẫn giữa họ khi còn đương nhiệm là thật hay là bịa? Hay là đã bị thổi phồng?

- Không có chuyện đó. Như trên tôi nói hai ông hai tính cách, mỗi ông mỗi thói quen, mỗi sở thích. Có thời, VNQĐ, không có Tổng biên tập. Ba ông Phó tổng, cả ba đều là Trung tá – ông thì người tại chỗ, ông thì ở chiến trường Khu 5, Khu 7 ra. Chẳng ông nào chịu ông nào! Trên phải điều ông Dũng Hà từ Ban Ký sự lịch sử làm Tổng biên tập, gọi ông Hồ Phương đang dưới hải quân viết “Biển gọi” về nhận chức Phó. Hai Thượng tá thường cậu cậu tớ tớ với nhau... Kẻ trước người sau đều được đeo lon tướng... Và thời họ cầm chịch không được như thời Phác – Tịnh – Cao (Văn Phác, Thanh Tịnh, Vũ Cao) – “thời Nghiêu -Thuấn” như sau này nhiều người vẫn nói. Nhưng đó là một thời “Nhà số 4” khá bình yên!

Tôi nhớ, cho tới khi qua đời, nhà văn Dũng Hà vẫn rất đau đáu nghĩ tới cuốn tiểu thuyết “Sông cạn” của mình. Tác phẩm này đã được in nhưng lại không phải đúng như cách hình dung của tác giả. Tôi đã từng được đọc “Sông cạn” ở dạng bản thảo và rất xúc động với những gì mà tác giả đã viết. Anh chắc chắn cũng đã đọc “Sông cạn”. Theo anh, liệu đã tới lúc chúng ta cho in tiểu thuyết này của nhà văn Dũng Hà như chính ông đã tạo ra nó?

- Trước khi mất ít ngày, ông Dũng Hà có đưa cho tôi mấy chục trang hồi ký có tên Dòng chảy nhọc nhằn của… “Sông cạn” với những câu mở đầu: “ Từ năm 1990, tôi đã có ý định viết một cuốn sách về vấn đề này – vấn đề mà tôi đã nghĩ từ năm 1985. Sau khi đã xác định chủ đề tư tưởng, tôi bắt tay vào việc, chính thức gặp một số nguyên mẫu chủ chốt sẽ là xương sống của truyện và dựng đề cương khá chi tiết. Nhưng mãi đến tháng 5 năm 1996 ... tôi mới bắt tay vào viết ... “Sông cạn” tuy chảy “nhọc nhằn” nhưng rồi cũng ra đến biển, cũng được NXB Quân đội Nhân dân in vào năm 2006”. Cũng trong văn bản vừa trích dẫn ở trên, ông kể: “Hạnh phúc cho tôi là sau khi bị kẹt dòng 10 năm, “Sông cạn” đã về được nơi nó cần chảy đến!”…

Tuy nhiên, “niềm vui ngắn chẳng tày gang” chỉ đến khi đọc kỹ lại cuốn sách được in rất đẹp, được trả nhuận bút … kịch trần ông mới biết được rằng, nó đã bị cắt mất ngót 80 trang (từ 580 còn 507 trang A4) mà những trang bị cắt là những trang ông và bạn bè ông tâm đắc nhất. Hôm đến tặng tôi “Sông cạn”, Dũng Hà bảo: “Anh tặng chú một con hổ… nhưng chỉ là hổ vườn Thủ Lệ!”... Tôi chẳng biết nói sao, cám ơn, nhưng chẳng lẽ lại chúc mừng! Ông giờ đã siêu sinh tịnh độ nơi cõi Phật, nhưng mỗi lần nhớ tới ông tôi lại cứ bị ám ảnh về một dòng sông như dòng sông Cà Lồ nơi quê tôi – dòng sông mà sinh thời nhà thơ Phạm Tiến Duật đã viết: “Sông Lấp, sông Cà Lồ những dòng sông dẫu cạn / Trong lòng người còn biết mấy mênh mông!”..

Những nhà văn mặc áo lính tập trung ở “Nhà số 4” sau chiến tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước đã từng tạo nên một di sản văn học rất đỗi lớn lao. Không ít người trong số họ từng là những gương mặt hàng đầu của văn học Việt Nam đương đại. Bằng cái nhìn của người làm phê bình văn chương, anh có muốn nói gì về tương lai của những tác phẩm mà đội ngũ nhà văn này đã tạo dựng nên không?

- Con người ta là sản phẩm của lịch sử, văn chương cũng vậy. Mỗi tác phẩm cũng có thời của nó. Những tác phẩm mà Hồng Thanh Quang vừa nói tới, theo tôi, nó chỉ sống vào cái thời mà nó được sinh ra. Những người sáng tạo ra nó đã trả, mà là trả sòng phẳng món nợ của thời đại họ sống. Cũng giống như “số phận” của cái điện thoại để bàn, cái điện thoại thẻ nơi công cộng mấy năm trước! Tôi trộm nghĩ như vậy. Còn chuyện “tác phẩm để đời” là việc của các thiên tài, là lộc giời. Cả trăm, cả ngàn năm mới có!

Không, tôi lại nghĩ khác anh một chút, văn học không phải là công nghệ viễn thông (Cười). Tôi là kỹ sư vô tuyến điện “xịn” nên tôi hiểu rõ điều này. Và các tác phẩm văn học không nên được coi như những cái điện thoại thuộc các thế hệ khác nhau.

-(Cười): Tôi biết, mọi so sánh đều khập khiễng, nhưng nói thế cho dễ hiểu thôi…

Anh nghĩ sao về nhà văn Lê Lựu? Có người cho rằng, với “Thời xa vắng” và “Chuyện làng Cuội”, nhà văn Lê Lựu đã tự dựng cho mình tượng đài văn học sẽ còn tồn tại rất lâu sau này nữa. Anh đánh giá sao ạ?

- Những tác phẩm ấy cũng là “sản phẩm” của một thời. Hay của hôm qua, với người ngày mai chưa chắc đã hay. Có điều nhắc tới văn học từ những năm đầu đổi mới đến hết nửa sau của thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI không thể không nhắc tới Lê Lựu và không thể không nhắc tới những tác phẩm ấy.

Lâu rồi anh có tới thăm anh Lê Lựu không?

- Cũng đã lâu lắm rồi chưa đến. Vì lúc đến thì anh em vui vẻ, khi về thì buồn lắm. Chắc anh ấy còn buồn hơn!

Anh bây giờ nghĩ thế nào về nhà văn Chu Lai? Về nhà văn Nguyễn Khắc Trường?

- Thi thoảng gặp nhau trong những cuộc họp của Hội Nhà văn hay cơ quan cũ thôi. Cũng đều ở tuổi “xưa nay hiếm rồi”!

Tôi đã từng được tham dự (với vai trò rất khiêm nhường là một trong hai người dẫn chương trình) của chương trình Giai điệu Tự hào trên VTV. Và tôi đã nhận thấy rằng, những ca khúc thời chiến tranh khi được dựng lại vẫn còn sức hấp dẫn vô cùng to lớn đối với người nghe, không chỉ thế hệ lớn tuổi mà ngay cả lớp trẻ. Có thể tôi chưa chắc đã đúng nhưng theo tôi, khó có thể điều gì tương tự về những tác phẩm văn học từng được coi là đỉnh cao trong thời chiến, ở thời điểm những tác phẩm này được viết ra. Thực tế cho thấy là, một trong những tác phẩm viết về chiến tranh vẫn được người đọc quan tâm nhất lại là “Nỗi buồn chiến tranh” của nhà văn Bảo Ninh, một tác phẩm mà tôi tin chắc rằng, trong chiến tranh rất khó được xuất bản. Anh có thể lý giải gì về điều này?

- Tôi rất thích chương trình này. Nó thực sự đã đem đến cho người ta quá nhiều cung bậc cảm xúc. Nhưng theo tôi, âm nhạc có sức lan tỏa và dễ đến với đám đông hơn; nhất là vào thời buổi nghe nhìn. Với văn chương, khác đấy, rất khó để quảng bá, rất khó đến được với công chúng đông đảo như thế; nhất là vào cái “thời suy tàn” của văn hóa đọc!

Tôi đã hỏi anh và hôm nay tôi vẫn muốn hỏi lại anh, anh đánh giá thế nào về thực chất những câu thơ mà bác Xuân Sách vịnh về các đồng nghiệp làng văn. Tôi cũng phải nói rằng, thời nhỏ, tôi đã rất say mê đọc sách viết cho thiếu nhi của nhà văn Xuân Sách. Và tôi luôn giữ trong lòng cảm giác là Xuân Sách là một nhà văn cực kỳ hiền lành, nhân hậu… Nên khi tôi đọc thơ vịnh đồng nghiệp của bác Xuân Sách thì tôi đã quá đỗi ngạc nhiên…

- Tôi vẫn bảo lưu quan điểm của tôi. Ông Xuân Sách là nhà văn có tài. Ngay cả tập thơ gây nhiều tranh cãi bạn vừa nói tới cũng phải là người có tài mới viết được. Nội nhớ tên tác phẩm của từng nhà văn cũng đã là đáng nể. Tuy nhiên, có một số bài đùa “ác” quá! Giá cứ như “Khúc khích văn nhân” của nhà thơ Trần Nhương vừa xuất bản thì quý biết mấy!

Nhưng Trần Nhương thì lại không phải là Xuân Sách…

- Và ngược lại…

Có ý kiến cho rằng, các nhà văn trẻ trong quân đội bây giờ nhìn chung không có nhiều khác biệt so với đồng nghiệp trong các lĩnh vực khác. Anh đánh giá sao về ý kiến đó?

- Như trên tôi đã nói. Con người là sản phẩm của thời đại. Văn chương cũng vậy! Mỗi thời mỗi khác!

Anh chú ý nhất tới những ai trong số những nhà văn trẻ của lực lượng viết mặc quân phục?

- Thì đếm được trên đầu ngón tay mà. Các nhà văn “cỡ” Nguyễn Bình Phương không thể gọi là trẻ nữa. Tạm coi là trẻ, nhưng đã là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam có: Nguyễn Đình Tú, Đỗ Bích Thúy, Đỗ Tiến Thụy, Nguyễn Xuân Thủy, Phùng Văn Khai, Nguyễn Mạnh Hùng, Uông Triều, Đoàn Văn Mật, Phạm Duy Nghĩa... Là không đông đảo, nhưng có lẽ đó cũng là một lực lượng... mơ ước của nhiều tờ báo, nhiều cơ quan văn hóa văn nghệ nhiều ngành và nhiều địa phương!

Từng là Tổng biên tập VNQĐ trong một giai đoạn không phải dễ dàng của tạp chí, bây giờ, nhìn lại mọi sự, anh đúc rút được ý niệm nào tâm đắc nhất?

- Là việc tổ chức những trại sáng tác (chủ yếu dành cho người trẻ); là thường xuyên mở các cuộc thi sáng tác văn chương để gọi bài “nuôi” tạp chí và tìm người nhằm bổ sung lực lượng cho “Nhà số 4” – nơi, có thể nói thẳng rằng không còn có sức “quyến rũ” những tài năng văn học trẻ như trước đây nữa!

Xin cảm ơn anh!

Hồng Thanh Quang (thực hiện)

Từ khóa

Ngô Vĩnh Bình nhà phê bình văn học văn chương