Kết quả điều tra “Chi tiêu công cho y tế, giáo dục và giao thông công cộng ở một số tỉnh tại Việt Nam” do Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế TW (CIEM) và Tổ chức Actionaid Việt Nam (AAV) công bố hôm qua, 11/11, để chính sách hỗ trợ của nhà nước đến được với người dân, điều quan trọng cần phải huy động được người dân tham gia ngay từ giai đoạn ý tưởng ban đầu…

Nha nuoc van la chu luc chi ngan sach cho y te, giao duc va giao thong cong cong - Anh 1

CIEM cho rằng cần huy động người dân tham gia trong xây dựng quy hoạch, đóng góp chi phí, thực hiện và giám sát các dự án đầu tư công

Nghiên cứu được CIEM, AAV và các đối tác thực hiện tại 7 địa phương ở Việt Nam bao gồm cả thành thị (Hà Nội, TP. HCM, Quảng Ninh, Trà Vinh) và nông thôn (Cao Bằng, Hà Giang và Đak Nông), từ tháng 7 đến tháng 9 năm 2016, đưa ra một góc nhìn độc lập về nhận biết chất lượng và khả năng tiếp cận các dịch vụ công của người dân tại một số địa phương.

Nguồn lực Nhà nước vẫn là chủ đạo

Kết quả nghiên cứu khẳng định hệ thống pháp luật hướng tới chính sách phát triên y tế, giáo dục đào tạo và giao thông của Việt Nam ngày càng được điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu của phát triển và hội nhập. Cơ chế huy động tài chính cho giáo dục đào tạo, y tế và giao thông cũng dần được đổi mới, hướng tới khuyến khích, thu hút vốn từ các nguồn ngoài ngân sách (xã hội hóa, vốn ODA, đầu tư nước ngoài…) trong đó đầu tư từ NSNN vẫn giữ vai trò chủ đạo.

Đặc biệt, báo cáo đã tái khẳng định vai trò chủ đạo của Nhà nước trong việc xây dựng các chương trình đầu tư công, nhất là ở những khu vực khó khăn. Tuy chi ngân sách cho y tế, giáo dục và giao thông công cộng đang ngày càng được ưu tiên và độ phủ của chính sách không ngừng được cải thiện, nhưng chất lượng của các dịch vụ này còn yếu, hỗ trợ về cơ sở hạ tầng không đồng bộ với hỗ trợ về dịch vụ, người dân không được biết đến và không được giám sát chất lượng các hỗ trợ này.

Về y tế, Việt Nam đứng thứ hai từ dưới lên (2007) và thứ năm từ trên xuống (2014) trong số các nước ASEAN về chi tiêu công cho y tế trên tổng chi y tế, tỷ lệ này có tăng lên theo thời gian (31% năm 2007 và 54,1% năm 2014). Tuy vậy, khó khăn về đội ngũ y bác sỹ ở tuyến cơ sở (vừa thiếu vừa yếu) ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ. Tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế của nhóm cận nghèo còn thấp (55%) dù được hỗ trợ từ 70% mệnh giá bảo hiểm trở lên.

Về giáo dục, mặc dù chi tiêu công cho giáo dục trên tổng chi cho giáo dục của Việt Nam đứng thứ hai từ trên xuống trong khu vực ASEAN, phần lớn (gần 82%) chi này là cho chi thường xuyên. Điều này cũng có nghĩa là các nhu cầu đầu tư để cải tiến chất lượng giáo dục còn rất hạn chế. Các cơ sở đào tạo được giao tự chủ tài chính nhưng lại không được giao tự chủ mức thu học phí, do đó việc tự chủ tài chính là không thực chất.

Về giao thông công cộng, mặc dù người dân đóng góp đến 15% tổng số vốn các đường liên thôn liên xã được sửa chữa, thi công trong thời gian qua nhưng việc người dân tham gia xây dựng quy hoạch và giám sát các công trình này còn hạn chế, hời hợt và nhiều nơi chỉ là hình thức. Chỉ 0,24 - 0,47 % người dân biết về chương trình hỗ trợ từ ngân sách cho hoạt động trợ cước, trợ giá vận chuyển và cung cấp phương tiện vận chuyển, vốn được ưu tiên cho khu vực miền núi, vùng sâu vùng xa.

Tăng cường vai trò của người dân

“Kết quả nghiên cứu đã nhấn mạnh vai trò của nhà nước trong việc thực hiện các quyền cơ bản của công dân thông qua các dự án đầu tư công cho các dịch vụ công thiết yếu. Cam kết của Chính phủ Việt Nam trong việc đảm bảo duy trì tỷ lệ chi NSNN cho các dịch vụ y tế, giáo dục và giao thông công cộng đặc biệt tại các khu vực khó khăn là rất đáng hoan nghênh và cần được các nhà tài trợ quốc tế ủng hộ.

Quan trọng nhất là Nhà nước cần huy động được người dân tham gia với vai trò bình đẳng hơn trong xây dựng quy hoạch, đóng góp chi phí, thực hiện và giám sát các dự án đầu tư công để nâng cao hiệu quả của các dịch vụ thiết yếu nhất, đáp ứng được nhu cầu phát triển của người dân”- Bà Hoàng Phương Thảo, Trưởng Đại diện AAV phát biểu.

Theo khuyến cáo của AAV, trong giai đoạn 2016- 2020, cần ít nhất duy trì tỷ lệ chi từ NSNN cho các lĩnh vực y tế, giáo dục và giao thông công cộng; Cố gắng không cắt giảm ngân sách cho y tế, giáo dục ngay cả khi cắt giảm chi NSNN nói chung. Cách thức triển khai cần tập trung và hướng đối tượng, đặc biệt là các đối tượng nghèo, người dân tộc thiểu số, trẻ em gái… Đồng thời giảm thiểu chi phí (thời gian và tài chính) cho quản lý hành chính; Lưu ý thời điểm hỗ trợ, tránh để hỗ trợ đến với người dân quá muộn.

AAV cũng lưu ý cách thức triển khai chi tiêu công cho y tế, giáo dục và giao thông công cộng cũng cần điều chỉnh theo hướng đáp ứng yêu cầu tốt hơn của người dân; Duy trì độ phủ của các dịch vụ này vẫn rất cần thiết song hiệu quả thực chất phải gắn với chất lượng dịch vụ…

“Muốn vậy, phải tăng cường sự tham gia của người dân ngay từ khi xây dựng ý tưởng là rất quan trọng. Cần tăng cường vai trò giám sát của người dân trong việc cung ứng dịch vụ công cộng và trong phân bố NSNN. Một điều quan trọng là các cơ quan quản lý và đơn vị trực tiếp cung ứng dịch vụ phải thông báo đầy đủ thông tin (về loại hình hỗ trợ, mức hỗ trợ, mục tiêu hỗ trợ) cho cộng đồng dân cư. Với các ý kiến của người dân liên quan đến cho tiêu công cần có giải trình kịp thời, xác đáng. Thường xuyên khuyến khích người dân nêu ý kiến, kiến nghị một cách thực chất…”, thành viên nhóm nghiên cứu lưu ý.

“Quan trọng chính sách phải đến với người dân và khi Dự án rút đi phải có cái đọng lại…”, Phó Viện trưởng CIEM, bà Nguyễn ThịTuệ Anh nhấn mạnh.

Thanh Thanh