Nguyễn Xuân Sơn vào ngành Công an từ năm 1974. Anh đã kinh qua nhiều đơn vị công tác, là người yêu thơ ca một cách thuần khiết và ấm nóng đến khác thường, là người nặng lòng với thi ca.

Nguyen Xuan Son: Nguoi nang long voi thi ca!? - Anh 1

Ngay từ lần gặp đầu tiên, tôi đã có ấn tượng và nhận diện ra anh là một chiến sĩ CA giản dị, chân thành, dễ gần gũi, có nhiều nét bè bạn. Anh là người yêu thơ ca một cách thuần khiết và ấm nóng đến khác thường, là người nặng lòng với thi ca; nhưng phải đến khi hưu trí với hàm đại tá, anh mới có điều kiện chuyên cần với thơ hơn. Cảm xúc đã qua thời mơ mộng, dạt dào nhưng bù lại, anh làm thơ khá mau, với nghệ thuật diễn đạt trong sáng, dễ cảm, dễ phổ cập với lòng người...

Bài thơ Mắt em mở đầu bằng một khổ thơ thật bình dị, đơn sơ mà thắm đượm bao ý tình muốn nói mà không chịu bộc bạch hẳn ra. “Trước em anh không còn là thánh thiện/ Mà trở thành thằng kẻ trộm ngu ngơ/Không trộm bằng tay bằng đôi mắt thẩn thờ/Em bị hại, đâu ngờ anh kẻ trộm?”. Bài thơ là lời thú nhận yêu đương nồng nàn, ngọt ngào, bỗng anh vẫy những câu thơ sau tưng bừng mang cả khối mâu thuẫn khó giải nghĩa rạch ròi ! Âu cũng là chút tâm tình của người con trai đang có được hạnh phúc đắm say bên người mình yêu dấu.

Phút trải lòng thật nhẹ nhàng, giai điệu nhạc tình vạn thuở với lời khen tặng thật chân thành, khiến người đọc bất ngờ trước vẻ đẹp long lanh của câu chữ: Bên trong đáy mắt thẳm sâu/ Trăng sao như đã rụng vào mắt em. (Mắt em).

Giản dị và chân thành, dường như Xuân Sơn chỉ viết về những điều xao động xảy ra chung quanh anh. Nói với Mẹ, với em,với con, với người tình trong mộng.... Nhưng có lẽ đấy chỉ là cái cớ để anh nói tới tâm thế thời đại, sự lãng quên những nẻo về quá khứ. Sự thức tỉnh từ câu thơ bắt nguồn từ trách nhiệm của nhà thơ trước vận mệnh của đất nước. Đây cũng chính là cái nhìn sâu sắc xuất phát từ trách nhiệm của một công dân trước hoàn cảnh đất nước. “ Làm quan giữ lấy cái danh/ Đừng vì cái lợi trở thành nhỏ nhen/ Đang sang bỗng trở nên hèn/ Dân nghèo chỉ trọng quan liêm giữa đời”.

Những khi xúc cảm dâng tràn thì anh vẫn nén lại, gói ghém trong lời tâm tình nhỏ nhẹ, đầm sâu, nhưng cứ hiện dần, lấp lánh và minh triết. Những hình ảnh chọn lọc, điển hình, gợi cảm, vừa cụ thể, lại vừa khái quát về cuộc sống còn nhiều trái ngang của những gia đình thương binh, liệt sĩ: “ Quan thì thừa đất bỏ hoang/Liệt sỹ không chỗ khói nhang cúng thờ/ Hỏi quan, quan cứ làm ngơ/ Nơi thờ liệt sỹ bao giờ có đây/ Hỏi trời cao hỏi đất dày/ “ Đất tham” nhuốn máu ai đây hởi người?”.

Vậy đó, giọng điệu và ngôn ngữ, ý tứ và lời thơ thường phải song trùng nhau, ăn khớp với nhau một cách hài hòa uyển chuyển. Bài thơ: Tâm sự với con, cùng dấu cảm thán đủ cho ta thấy một gia cảnh nghèo đói và khó khăn biết chừng nào: “ Một đời vất vã con ơi !/ Lo cho con được nên người mẹ mong/Dẫu cho vai mẹ đã còng/ Cả đời vất vã mẹ không quản gì/ Mẹ nghèo chẳng giúp được chi...”. Ở đây giọng thơ chân mộc, giãi bày của Xuân Sơn đã phát huy lợi thế. Mở đầu bài thơ, anh đã thốt lên tiếng gọi: “ Một đời vất vã con ơi”.

Chỉ với thơ thôi, người đọc thoáng qua nhưng nỗi đau đọng lại. Nỗi đau này thuộc về những trái tim lương thiện, với những buồn thương chất trồng trong con tim và khối óc của mẹ. Những câu thơ chân mộc của anh có ý nghĩa như một chiêu tuyết cho việc giáo dục đạo lý làm người trong xã hội chúng ta hôm nay. Sự khái quát từ cái riêng thành cái chung, người đọc chậm, nhẩn nha cùng tác giả đã nhận ra giữa những khe hẹp của chữ nghĩa, của câu, của tình cảnh: “ giật mình trong quán cà phê/ Mẹ tôi ăn mặc rất quê lại gần/ Đưa tay mẹ xin mấy đồng/ Mẹ tôi ư! Biết là không phải rồi/ Mẹ ăn xin, khổ mẹ tôi....

Rồi tác giả đã thay đổi cách nhìn của xã hội với những ai còn mẹ hãy có trách nhiệm bằng những tình yêu thương rất con người. “ Hỏi ai có mẹ đang còn/ cớ sao bỏ mẹ ra đường có nên”? Đọc câu thơ, tôi cảm nhận được nỗi đau tan tác ở trong anh. Vậy là những người để mẹ ăn xin, ra đường đã là kẻ “mồ côi” lại mồ côi thêm một nữa. Tác giả đã truyền cảm hứng cho chúng ta: Chỉ có yêu thương mới nối tiếp những yêu thương của con người. Những câu thơ trên giản dị mà giàu ý nghĩa nội hàm. Không có một tấm lòng chân thực, hiểu đời, thương người và yêu người, sao có được cái nhìn nhân văn mặn mà như thế ?

Nét tài hoa đã thực sự lộ rõ khi anh làm chủ cả hai cõi giới thực và ảo kết hợp nhuần nhuyễn, trong thực có ảo, trong ảo có thực. Đó là đôi nét vẽ vừa phóng túng, vừa nghiêm ngặt lề luật. Trong đó có bao điều gửi gắm:“ Tôi tìm gặp người yêu xưa”, trong trạng huống: “ Cùng em đội cả cơn mưa trắng trời”. Ở đây, tác giả đã “ gõ” ra một tiếng chuông ngân nga quay lại niềm riêng nhưng ai cũng mong cầu; rồi anh dùng từ “ tái sinh” để nhấn nhá cho một vấn đề cần trao gửi: “ Đợi tôi, em đội cả trời mưa giăng”!? Tình yêu là thiêng liêng, có phải từ đó mà tạo niềm riêng khi nhắc đến nụ hôn đầu tiên chăng? Hãy cùng tôi nghe lại tiếng chuông này, hợp âm cuối bài thoát ra, ở đó có cả dáng hình nhỏ nhoi đôi nhân vật trữ tình là tôi và em thấp thoáng từ bao giờ:“ nữa đời ta mãi tìm nhau”, để “ Đêm qua hơn cả trong mơ/ Tình yêu xưa lại bây giờ của nhau”.

Tôi rất thích cách chơi từ ngữ, một phần trong thi pháp mà cũng là cách mỗi người làm thơ bầy tỏ quan niệm thơ của mình. Tôi chia sẻ những câu thơ với những từ hết sức bình dị được đặt đúng chỗ mà phát ra tiếng lanh canh của ngôn ngữ đắc địa.

Ở một bài thơ khác của anh, ta lại bắt gặp một sự nhi nhiên của một giọng thơ, một ngọn bút có công lực. Công lực cũng nằm ở nhịp chọn rất thuận, dịu dàng khi nói về một tình yêu: “ giận tôi em đi lấy chồng/ “Trả thù” tôi bởi tôi “ thằng” thờ ơ./ Bây giờ em lấy chồng hờ/ Gặp tôi em cứ giả vờ như không”!? Trong vai người “bị trả thù”, người thất bại giữa ngổn ngang đa đoan của trần thế, mà tác giả đã trót “ ngoéo tay” với nàng. Có chuyện gì giữa hai người vậy? Bao nhiêu câu hỏi có thể đặt ra cho bất kỳ ai đọc hết khổ thơ: “ Giá như có kiếp sau này/ Tình xưa tôi lại giang tay đón về”. Tình yêu không có gì mà hóa ra lại rắc rối, đa đoan, khổ sở đến vậy. Khi nhớ thương thì nó bổi hổi bồi hồi, đứng ngồi không yên; khi đau khổ thì nó khóc trào máu lệ, ai oán, xót xa bao nhiêu cung bậc không làm sao tả xiết. Thế mới biết dù mối tình đã qua, dù cuộc sống có đổi thay thì tác giả vẫn mong muốn và hy vọng tình yêu ấy được trân trọng, đủ đầy.

Viết về đề tài tình yêu, thi sĩ xưa nay vạn người thương khóc, nhưng thường là khóc cho mình bị phụ rẫy, lãng quên. Khác lối mòn thông thường ấy, Xuân Sơn đã mang lại cho người đọc một bài thơ tình cấu tứ khác hẳn, tuy vẫn nằm trong mạch ngầm chứa chan của tình yêu vạn cổ.

Cái tình yêu trong thơ Xuân Sơn đầy hương vị sắc màu. Ỏ đây, không thể nói là tình yêu một phía, mà là lỗi tại người con trai, luôn muốn cháy hết mình. Nhưng trong chuyện này chàng đã quá thờ ơ, đến khi nhận được tin báo: “ em đi lấy chồng; nhưng chàng chẳng ý tứ gì mà lại còn: “ Vô tư tôi vội chúc mừng em luôn/ Chúc xong bỗng thấy em buồn/ Em quay mặt nước mắt tràn ứa mi”. Và một khi đã đi quá xa, cuối cùng, dù muộn , như tâm nguyện của nhà thơ phải trở về bờ nhân thế, cần một chút ấm áp để vượt qua, để an ủi cái điều bất định rất có thực trong biểu cảm của người con trai: “ Cưới em chẵng lẽ chia buồn hay sao/ Thế rồi em khóc nghẹn ngào/ Ôm tôi em gục mãi vào ngực tôi/ giữa khi phố xá đông người/ tôi ôm em đứng giữa trời chôn chân”. Vậy ra, nếu đời không phải thế nghĩa là đời không phải thơ. Vậy, cứ trong ý tứ mà suy, sẽ thấy đây là lời tự thú của sự bất thành, từ một phía.

Hóa ra cái lỗi chính là vì “ giận tôi em đi lấy chồng” gây ra chứ người con trai có tội tình gì đâu! Nếu tâm trạng của nhân vật chữ tình ở khổ thơ thứ nhất là “ Trả thù” tôi bởi cho rằng thờ ơ; cho nên em phảilấy chồng hờ”/ gặp tôi em cứ giả vờ như không”. Tâm trạng ấy cứ chuyển thành nỗi buồn điệp điệp. Càng cứa xoáy vào lòng người nằng nặng không nguôi.

Cái hay của khổ thơ này là ở chỗ đó, nó vừa lạ vừa quen, nó là tâm trạng của một người mà cũng là của nhiều người, nghĩa là phổ quát, là tất cả. Khi ta không yêu ai đó, nhưng họ lại có tình cảm với mình, biết bao áy náy xen lẫn chút lòng thương hại, cảm giác buồn buồn tội nghiệp cho họ là tâm trạng có thật. Nhân văn hơn, khi từ nỗi buồn cảm thông cho nỗi bất hạnh của người yêu mình mà mình không đáp lại đã được tác giả nâng lên thành nỗi ân hận vì “ quá thờ ơ”. Đó là món nợ không lấy gì trả được. Người đời vẫn thường nói, “ nợ bạc nợ vàng còn trả được/ nợ tình nợ nghĩa lấy chi đong” !? Có thể nói, Xuân Sơn là “ nhà thơ lãng du”.

Nhưng vì sao anh có thể tồn tại được trong hàng ngũ CA suốt mấy chục năm như vậy? Đơn giản vì tài năng, và lớn hơn, Xuân Sơn là người lao động thực thụ. Với bản năng trời phú hiếm có, không hám danh lợi, không hám nhiều kiến thức sách vỡ, nhưng bù lại đầy ắp vốn sống. Ai gặp anh với góc độ người cán bộ CA cũng phải nói anh là người chiến sỹ CA thứ thiệt. Nếu cần tìm một thi sỹ đích thực, một thi sỹ có thể sẳn sàng đánh đổi tất cả vì thơ, không màng đến bỗng lộc, công danh, quan chức... chỉ muốn sống để được viết. Và dĩ nhiên Xuân Sơn đã hội đủ những công lực mạnh mẽ đó.

Tác giả có quyền trân trọng về những gì mình đã và đang có để tiếp tục cống hiến cho đời những bài thơ hay hơn nữa. Bởi anh còn nặng lòng với thi ca nhiều lắm!

Triều Nguyệt/KD&PL